|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 52/2024/HS.ST Ngày 16-4-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1) Ông Nguyễn Duy Thảo
2) Ông Phạm Thuận
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
LẠI TẤN S, tên gọi khác: không, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1991; tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Tổ 18, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lại Tấn T (sinh năm 1960) và bà Lê Thị L (sinh năm 1963); bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 chị em; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 04/10/2023, sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T từ ngày 10/10/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Thị L1, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ dân phố số B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Chu Vũ Quang T1, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ E, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
2. Ông Trần Quốc D, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ C, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
3. Bà Lại Thị Y, sinh năm 1985; địa chỉ: số A đường T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên vào sáng ngày 26/9/2023, Lại Tấn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade không gắn biển kiểm soát đi dạo trên các tuyến đường của thành phố Đà Nẵng với mục đích tìm kiếm người sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đi trên đường T thì phát hiện chị Trần Thị L1 đang dừng xe mô tô để nghe điện thoại trước đầu kiệt 236 đường T thuộc địa bàn phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. S điều khiển xe đi về phía sau của chị L1, lợi dụng lúc chị L1 không chú ý, S liền áp sát, nhanh chóng dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro màu xám đen mà chị L1 đang cầm trên tay rồi tăng ga tẩu thoát về hướng đường Ông Ích K. Sau đó, S điều khiển xe mô tô đi qua nhiều tuyến đường khác nhau để tránh bị phát hiện. Đi được khoảng 30 phút thì S đi đến tiệm C ở số B T, thành phố Đà Nẵng do anh Chu Vũ Quang T1 quản lý và cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro màu xám đen được 3.500.000 đồng. Số tiền này S đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo bản Kết luận định giá tài sản ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro (8+256GB) màu xám có trị giá: 4.600.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm ngàn đồng).
- Vật chứng thu giữ:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu giữ:
01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến vụ cướp giật tài sản vào ngày 26/9/2023 tại K236 T, TP. (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án);
01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ ASIA phía sau; 01 áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 quần lửng màu xanh đậm;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro (8+256GB) màu xám, số IMEI: 868321067291782. Ngày 03/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trần Thị L1.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 43E1-685.09 (số khung: RLHJA3689PY100643, số máy: JA36E1143686). Qua xác minh, xe do anh Trần Quốc D đứng tên chủ sở hữu. Anh D1 đưa xe cho chị Lại Thị Y mượn làm phương tiện đi lại, sau đó S điều khiển xe này đi cướp giật tài sản. Anh D1 và chị Y không biết S dùng xe này đi cướp giật tài sản nên ngày 17/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe mô tô trên cho anh D1.
- Trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:
Quá trình điều tra người bị hại Trần Thị L1 đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không yêu cầu bị cáo S bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Chu Vũ Quang T1 đã nhận lại 3.500.000 đồng cầm cố điện thoại cho bị cáo S và không yêu cầu bị cáo S bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 05 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Lại Tấn S về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lại Tấn S theo như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lại Tấn S phạm tội “Cướp giật tài sản” và áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Tấn S từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ ASIA phía sau; 01 áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 quần lửng màu xanh đậm. Lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến vụ cướp giật tài sản vào ngày 26/9/2023 tại K236 T, thành phố Đà Nẵng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro (8+256GB) màu xám, số IMEI: 868321067291782 cho bị hại Trần Thị L1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 43E1-685.09 (số khung: RLHJA3689PY100643, số máy: JA36E1143686) cho người liên quan Trần Quốc D là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị L1 và người liên quan Chu Vũ Quang T1 không yêu cầu bị cáo S bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi ông Chu Vũ Quang T1 nhận cầm cố điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro do cướp giật mà có và ông Trần Quốc D, bà Lại Thị Y để bị cáo S sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 43E1-685.09 làm phương tiện đi cướp giật tài sản.
Bị cáo Lại Tấn S thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa, người bị hại là bà Trần Thị L1; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Chu Vũ Quang T1, ông Trần Quốc D đều vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng, những người này đã được lấy lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lại Tấn S đã khai nhận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 26/9/2023 tại trước đầu kiệt số B đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Lại Tấn S đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade không gắn biển kiểm soát (theo phiên trả lời xác minh xe của Công an quận S, thành phố Đà Nẵng ngày 21/11/2023 có biển kiểm soát là 43E1-685.09, số khung là RLHJA3689PY100643, số máy là JA36E1143686) nhanh chóng áp sát, giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro (8+256GB) màu xám, số IMEI: 868321067291782, có giá trị 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) của chị Trần Thị L1 rồi tẩu thoát.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt giữ khẩn cấp, biên bản tạm giữ tang vật, chứng thư giám định, kết luận định giá tài sản, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lại Tấn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Việc kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố bị cáo Lại Tấn S với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ tiềm tàng khả năng gây tổn hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện. Mục đích của bị cáo nhằm chiếm đoạt được tài sản, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo Lại Tấn S đã thể hiện sự coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Lại Tấn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện trả lại tiền cầm cố điện thoại cho ông Chu Vũ Quang T1. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này ra, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Bị cáo có bà cố nội là mẹ Việt Nam anh hùng, bà ngoại có công cách mạng và ông nội là thương binh loại một. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để làm gương răn đe, giáo dục đối với những người có ý thức pháp luật kém và để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn luyện, trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ ASIA phía sau; 01 áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 quần lửng màu xanh đậm là các vật dụng bị cáo S mặt trên người lúc thực hiện hành vi cướp giật tài sản, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo S không liên quan đến hành vi phạm tội và bị cáo không có ý định nhận lại các tài sản này nên cần tiến hành tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến vụ cướp giật tài sản vào ngày 26/9/2023 tại địa chỉ K đường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro (8+256GB) màu xám, số IMEI: 868321067291782. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 37/QĐ-CSHS ngày 31/10/2023 trả lại chiếc điện thoại này cho chủ sở hữu hợp pháp bà Trần Thị L1 là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 43E1-685.09 (số khung: RLHJA3689PY100643, số máy: JA36E1143686). Hội đồng xét xử nhận thấy đây là tài sản của ông Trần Quốc D đứng tên chủ sở hữu. Ông D đưa xe này cho bà Lại Thị Y quản lý, sử dụng. Cả ông D và bà Y đều không biết việc S điều khiển xe đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý vật chứng số 53/QĐ-CSHS ngày 06/12/2023 trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Quốc D là có căn cứ, đúng pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại bà Trần Thị L1 đã nhận lại tài sản bị cướp giật, người liên quan ông Chu Vũ Quang T1 đã nhận lại số tiền 3.500.000 đồng cầm cố điện thoại cho bị cáo S, cả bà L1 và ông T1 đều không yêu cầu bị cáo S bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo Lại Tấn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Vấn đề khác:
Đối với sự việc ông Chu Vũ Quang T1 nhận cầm cố điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro và ông Trần Quốc D, bà Lại Thị Y để bị cáo S sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 43E1-685.09 làm phương tiện đi cướp giật tài sản, quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 P, ông T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà, ông D và bà Y không biết bị cáo S đã tự ý sử dụng xe máy không gắn biển kiểm soát lưu thông trên đường với mục đích đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông T1, ông D, bà Y là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lại Tấn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lại Tấn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 04/10/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ ASIA phía sau; 01 áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 quần lửng màu xanh đậm.
(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/02/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê).
Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến bị cáo Lại Tấn S cướp giật tài sản vào ngày 26/9/2023 tại địa chỉ K đường T, thành phố Đà Nẵng.
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lại Tấn S phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/4/2024). Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
Bản án số 52/2024/HS.ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 52/2024/HS.ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lại Tấn Sang "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171
