TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày: 15-11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Hồng Cẩm
- Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát Viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Chau Sna (Tên gọi khác: S5), sinh ngày 04-02-2000, tại huyện T, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau S, sinh năm 1974 và bà Néang D, sinh năm 1966; vợ Néang Đa Q, sinh năm 2002 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2019; anh, em có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-5-2023 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lương Minh H, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A, có mặt.
Bị hại: Ông Chau Sóc M, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Hà Quang V, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quann: Bà Néang D, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người làm chứng: Ông Chau S1 (vắng mặt); ông Chau M1 (vắng mặt); ông Chau R (vắng mặt); bà Néang Đa Q1 (vắng mặt); bà Néang Sóc D1 (vắng mặt); bà Néang K (vắng mặt).
Người Phiên dịch: Ông Kim S2, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Chau S3 cùng Néang Đa Quy chung sống như vợ chồng và có 01 đứa con tên Néang Đa L, sau đó S3 và Q1 chia tay, Q1 quen biết và sống như vợ chồng với Chau Sóc M, thời gian này S3 có gọi điện thoại nói chuyện với Q1 nên xảy ra cự cãi với M qua điện thoại.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30-4-2023, S3 ngồi uống bia cùng Néang Sóc D1, Chau S1 và một số người khác (chưa rõ họ, tên) tại nhà D1 thuộc ấp T, xã N, huyện T. Lúc này, S3 thấy Chau M1 điều khiển xe mô tô chở Q1 dừng ngoài đường, Q1 đem gấu bông vào nhà cho Đa L, còn M1 gồi ngoài xe đợi. Do nhớ lại chuyện cự cãi với M1 trước đó nên S3 đi đến dùng tay phải đánh 01 cái vào mũ bảo hiểm M1 đang đội trên đầu, M1 tháo mũ bảo hiểm xông lại đánh liên tiếp 02-03 cái vào vùng đỉnh đầu của S3 làm vỡ mũ bảo hiểm. Thấy vậy, S1 ra can ngăn làm Mươne ngã xuống đường. Sau đó, S3 vào nhà D1 lấy cây kéo bằng kim loại, màu trắng cầm trên tay phải, mũi kéo hướng về sau, chạy ra đứng đối diện đâm 01 nhát vào ngực trái của M1 thì bị M1 dùng tay đánh trả, S3 tiếp tục dùng kéo đâm 02 nhát từ phải sang trái vào vùng lưng của M1 và liên tục cầm kéo quơ qua lại trúng vào người, tay của M1 gây thương tích. Sau đó S3 bỏ trốn, M1 được mọi người đưa đi cấp cứu. Ngày 01-5-2023, S3 đến Công an xã N, huyện T đầu thú.
Ngày 10-5-2023, Chau S3 bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) cây kéo có cán bọc nhựa màu hồng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 11cm, mũi nhon, trên lưỡi kéo có chữ STAINLESS STEEL và SK5, lưỡi kéo có dính vết máu màu nâu, 02 mũi kéo bị biến dạng.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 328/23/KLTTCT-TTPY ngày 09-6-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận: Chau Sóc M, sinh năm 2000, có các vết thương:
- - Sẹo giữa đính, kích thước (0.7 x 0.2) cm, phẳng, mờ, không khâu, tỷ lệ 01%;
- - 02 sẹo mặt trước ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái, nằm ngang, lồi, sậm màu, bờ sắc gọn, không khâu: Vết 01 kích thước (0.7 x 0.1) cm, tỷ lệ 01%; vết 02 kích thước (01 x 0.2) cm, tỷ lệ 01%;
- - Sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước (1.5 x 0.3) cm, hình vòng cung, sậm màu, bờ sắc gọn, không khâu, tỷ lệ 01%;
- - 02 sẹo vai trái, hồng, phẳng, bờ sắc gọn, không khâu: Vết 01 kích thước (0.7 x 0.1) cm, tỷ lệ 01%; vết 02 kích thước (0.7 x 0.1) cm, tỷ lệ 01%;
- - 02 sẹo lưng phải cạnh cột sống ngực-thắt lưng, nằm xiên, hồng, lồi, có khâu: Vết 01 kích thước (01 x 0.2) cm; vết 02 kích thước (1.5 x 0.3) cm; gây gãy dạng đứt mỏm gai đốt sống ngực D9, điều trị bảo tồn, tỷ lệ 08%;
- - 02 sẹo lưng phải dưới bả vai phải, nằm xiên, hồng, lồi, bờ sắc gọn, có khâu: Vết 01 kích thước (02 x 0.2) cm; vết 02 kích thước (1.7 x 0.1) cm; gây thấu ngực, tràn khí, tràn máu màng phổi phải lượng nhiều, đã phẫu thuật dẫn lưu màng phổi, tỷ lệ 12%;
- - 02 sẹo vai phải, hồng, lõm, bờ sắc gọn, có khâu: Vết 01 kích thước (01 x 0.2) cm, tỷ lệ 01%; vết 02 kích thước (0.7 x 0.3) cm, tỷ lệ 01%;
- - Sẹo bả vai phải kích thước (1.5 x 0.2) cm, hồng, lồi, bờ sắc gọn, có khâu, tỷ lệ 01%.
Kết luận:
- - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Chau Sóc M tại thời điểm giám định là 27%;
- - Cơ chế hình thành tất cả các thương tích trên do vật sắc nhọn gây nên.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chau S3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Bị hại Chau Sóc M có lời khai: Sự việc đánh nhau đúng như nội dung bản cáo trạng, khi Chau S1 chạy đến can ngăn làm Mươne ngã xuống đất, Sóc không có đánh M. Gia đình Chau S3 có đến thăm hỏi và khắc phục hậu quả 5.000.000 đồng, nay Mươne yêu cầu bồi thường thêm 33.500.000 đồng.
Người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng có lời lời khai phù hợp với nội dung vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Chau S3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Chau S3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chau S3 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự;
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo có cán bọc nhựa màu hồng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, mũi nhọn, trên lưỡi kéo có chữ STAINLESS STEEL và SK5, lưỡi kéo có dính vết máu màu nâu, 02 hai mũi kéo bị biến dạng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, bị hại không có mâu thuẫn, không cự cải với bị cáo, nhưng bị cáo lại sử dụng hung khí nguy hiểm đâm bị hại gây thương tích nhiều nhát trên cơ thể nên cần xử lý bị cáo mức hình phạt tương xứng để đảm bảo tính răn đe. Về bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hồi đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với nội dung cáo trạng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Viện kiểm sát, đề nghị xem xét thêm các tình tiết bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc Khmer, không biết chữ nên trình độ am hiểu pháp luật có phần hạn chế, mới phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tính răn đe.
Bị cáo thống nhất với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không bào chữa bổ sung.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định pháp y số 328 ngày 09-06-2023 cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập đúng pháp luật trong quá trình điều tra. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn về chuyện tình cảm, nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30-4-2023, khi thấy M chở Q1 về nhà và nhớ chuyện cãi nhau qua điện thoại với Mươne trước đó, nên S3 đã có hành vi dùng kéo đâm vào ngực, lưng, tay M gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây nên là 27%. Do cây kéo mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho bị hại là loại hung khí nguy hiểm nên cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng kéo đâm vào người sẽ gây nên thương tích, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của ông M, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất cương quyết, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ với bị hại mà bị cáo thực hiện hành vi dùng kéo đâm bị hại, bất chấp hậu quả xảy ra.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Sức khỏe của con người là vốn quý được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người đã trưởng thành có đủ nhận thức về điều đó, nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác. Vì vậy, cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc Khmer sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên trình độ am hiểu pháp luật có phần hạn chế, tác động gia đình bồi thường tiền khắc phục hậu quả, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú. Vì vậy, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chau M1 yêu cầu bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo S3 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên, nên công nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo là có căn cứ.
[7] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) cây kéo có cán bọc nhựa màu hồng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, mũi nhọn, trên lưỡi kéo có chữ STAINLESS STEEL và SK5, lưỡi kéo có dình vết màu nâu, 02 hai mũi kéo bị biến dạng. Đây là công cụ mà bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị, nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc Khmer, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Chau S3 (Tên gọi khác: S4) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chau S3 (Tên gọi khác: S4) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 10-5-2023 (ngày mười, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây kéo có cán bọc nhựa màu hồng dài 11 cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, mũi nhọn, trên lưỡi kéo có chữ STAINLESS STEEL và SK5, lưỡi kéo có dính vết màu nâu, 02 hai mũi kéo bị biến dạng.
(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-10-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T).
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật dân sự.
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Chau S3 (tên gọi khác: Sua) bồi thường thiệt hại cho bị hại Chau S số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng).
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo S3.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 52/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
