Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-8-2024

V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Văn Diện

Ông Đoàn Văn Cương

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Thân Văn Đ, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Bà Hà Thị H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ HKTT: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Thân Văn Đ trình bày như sau:

-Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Hà Thị H ngày 24/01/1995 trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 1996 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn nên bà H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ cùng em trai ở xã M ở, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà Hà Thị H được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Thân Thị H1, sinh ngày 18/8/1995. Hiện nay con chung đã trường thành ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Thân Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ông Thân Văn Đ có đơn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

*Bị đơn bà Hà Thị H được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác giao cho người thân là em trai Hà Văn T nhận thay cam kết thông báo cho bà Hà Thị H và tiến hành niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà Hà Thị H không đến Tòa án làm việc từ chối khai báo không đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Hà Thị H vắng mặt lần hai không có lý do.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn bà Hà Thị H không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ chối khai báo. Tại phiên tòa ông Thân Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Hà Thị H vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Thân Văn Đ được ly hôn bà Hà Thị H.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn của ông Thân Văn Đ với bị đơn bà Hà Thị H có địa chỉ HKTT tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, không có đương sự nào khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đều hợp pháp.

Tại phiên tòa ông Thân Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Hà Thị H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 của BLTTDS Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Thân Văn Đ và bà Hà Thị H đăng ký kết hôn ngày 24/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Cưới xong ông bà về chung sống tại gia đình ông Đ ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 1996 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, ông bà sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ năm 1996 đến nay. Phía ông Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được ông xin được ly hôn với bà Hà Thị H. Phía bà Hà Thị H được Tòa án tống đạt thông báo các văn bản tố tụng cho người thân là anh Hà Văn T là em trai nhận thay và niêm yết theo quy định của BLTTDS. Căn cứ biên bản xác minh với anh Hà Văn T và anh Hà Văn T1 là em trai của bà H trình bày thông qua điện thoại anh có nói chuyện với bà H được biết việc Tòa án đang giải quyết việc ông Đ có đơn xin ly hôn với bà H, nhưng bà H do đang làm ăn xa, không đến Tòa án làm việc được, không đưa ra ý kiến quan điểm của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

HĐXX xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa ông Đ và bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì ông bà sống ly thân từ năm 1996 đến nay. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thân Văn Đ. Xử cho ông Thân Văn Đ được ly hôn bà Hà Thị H.

[3] Về con chung: Ông Thân Văn Đ và bà Hà Thị H có một con chung là Thân Thị H1, sinh ngày 18/8/1995. Hiện nay con chung đã trường thành nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Thân Văn Đ không yêu cầu, phía bà Hà Thị H không có ý kiến nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Thân Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007589 ngày 27/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Thân Văn Đ được ly hôn bà Hà Thị H
  2. Về án phí: Buộc ông Thân Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007589 ngày 27/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hương Lạc;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Đ, bà H- ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger