|
DTÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 15-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Khúc Thị Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Xuân C, sinh ngày 29/5/1973 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B khu tái định cư T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân D và bà Nguyễn Thị C1, có vợ là Phạm Thị M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị C2 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024; có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (đã chết)
Những người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, là mẹ đẻ của bị hại; có mặt.
2. Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, là vợ của bị hại; vắng mặt nhưng ủy quyền cho bà Vũ Thị H, đại diện toàn quyền, đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ; địa chỉ trụ sở: Số A đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; người đại diện hợp pháp của Công ty là ông Nguyễn Kim T- Giám đốc Công ty; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
2. Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng ủy quyền cho bà Vũ Thị H, đại diện toàn quyền, đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Cháu Phạm Văn H2, sinh năm 2016; cháu Phạm Ánh N, sinh năm 2017; cháu Phạm Thị T1, sinh năm 2022; cùng nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (là các con của bị hại). Người đại diện hợp pháp của các cháu là chị Vũ Thị H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (là mẹ đẻ của các cháu); vắng mặt nhưng ủy quyền cho bà Vũ Thị H, đại diện toàn quyền, đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Xuân C có giấy phép lái xe ô tô hạng D. Năm 2011, C ký hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạÐ (viết tắt là Công ty TNHH Đ, công việc là lái xe và được Công ty giao xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 để chở công nhân của Công ty đi làm việc. Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 19/04/2024, C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 15B-031.95 tham gia giao thông trên đường D theo hướng từ phường M, quận Đ về xã N, huyện K, với tốc độ khoảng 40km/giờ. Khi đến cách ngã tư giao nhau giữa đường D với đường C thuộc thôn A, xã T, huyện K khoảng 10 m; C quan sát hai bên đường thấy xe mô tô Biển kiểm soát 15H1-200.71 do anh Phạm Văn S điều khiển đi trên đường 361 theo hướng xã T về xã T, huyện K, cách C khoảng 20m đến 30m. Do C tin tưởng, sẽ tránh được anh S nên C điều khiển xe giảm tốc độ xuống còn khoảng 25-30km/giờ vào ngã tư thì đầu xe phía bên trái xe ô tô va chạm với đầu xe mô tô do anh Phạm Văn S điều khiển. Hậu quả anh S tử vong, 02 xe bị hư hỏng nhẹ. Cùng ngày 19/4/2024, Đặng Xuân C đến Công an huyện K đầu thú, giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Đặng Xuân C, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ô tô 15B-031.95 đều mang tên Công ty TNHH Đ.
Kết quả kiểm tra, Đặng Xuân C không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường thuộc ngã tư giao nhau giữa đường C với đường D thuộc thôn A, xã T, huyện K và nằm trong phạm vi có hiệu lực của biển báo hiệu đường giao nhau cùng cấp (biển 205a). Lấy biển báo hiệu 205a và mép đường bên trái theo chiều xe ô tô đi làm chuẩn. Lòng đường 402 rộng 5,50m, lòng đường 361 rộng 06m, đều có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn chia thành hai chiều xe đi và có gờ giảm tốc. Vết xước 1 có kích thước 0,025x0,01m cách mép đường 2,35m, cách đầu vết mài 0,25m và cách vạch kẻ sơn màu vàng giữa đường 361 là 1,05m. Vết xước 2 dài 4,20m, đầu vết xước cách mép đường 2,65m, cách đầu vết xước 1 là 0,60m, cách đầu vết mài 0,50m, cuối vết xước cách mép đường là 0,85m. Vết mài màu đen xám trắng trong diện 0,75x0,23m (ký hiệu số 02) lần lượt cách mép đường là 2,60m và 2,65m. Vết màu đen hình cong kích thước 30,50x0,25m, đầu vết màu đen cách cuối vết mài và mép đường lần lượt là 1,25m và 2,80m, cuối vết trùng với lốp trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 và cách mép đường là 3,20m. Ngoài ra, còn một số vết xước và vết mài khác đều có hướng từ phường M về xã N. Xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 đổ nghiêng bên trái nằm trên lề đường, đầu xe quay hướng xã T, đuôi xe quay hướng xã T, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau vào mép đường là 2,25m và 1,10m. Xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 dừng đỗ trong ngã tư, đầu xe quay hướng xã N, đuôi xe quay hướng phường M, lốp trước bên trái bị hết hơi; tâm trục bánh trước và bánh sau bên trái xe ô tô vào mép đường là 3,20m và 3,50m, trục bánh trước bên trái xe ô tô đến trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 là 20,30m.
Kết quả khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi số 113/KLGĐTT-TTPYHP ngày 08 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm P, kết luận: “Anh Phạm Văn S bị chấn thương ngực gây gẫy xương lồng ngực hai bên. Nạn nhân chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do chấn thương ngực nặng”.
Kết luận giám định hóa pháp số 949, 950 ngày 06/5/2024 của V, kết luận: “Không tìm thấy E và chất ma túy trong mẫu máu của anh Phạm Văn S. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Đặng Xuân C”.
Kết luận giám định số 1437/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố H, kết luận: “Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 với xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 là ở phía trước vết mài (ký hiệu số 02 trong biên bản khám nghiệm hiện trường). Dấu vết rách thủng cao su, bề mặt trượt xước mất cao su màu đen, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su theo chiều từ tâm ra ngoài ở mặt ngoài má lốp ngoài bánh xe phía trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95, phù hợp với dấu vết dập rách, bung bật, trượt xước mất cao su màu đen, để lộ lõi kim loại phía trong bị trượt xước, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su theo chiều từ trước về sau ở đầu ngoài bàn để chân phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71...
Khám xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 có các dấu vết: Góc dưới bên trái (bên lái) kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ lan tỏa theo chiều từ trước về sau bám dính tạp chất sợi màu đen. Ốp kim loại tai xe bên trái bánh trước bị lõm, bẹp kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu bạc, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su theo chiều từ sau về trước. Lốp xe bánh trước bên trái bị hết hơi, má lốp phía ngoài có vết rách thủng cao su, bề ngoài trượt xước mất cao su màu đen, kích thước 0,23x0,12m, tâm vết rách cách chân van 0,46m. Góc trái ốp nhựa cản trước đầu xe có đám trượt xước mất sơn màu bạc, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su. Ngoài ra còn một số vết xây xước khác. Kiểm tra trên xe không gắn thiết bị GPS, xe có gắn camera hành trình nhưng không có thẻ nhớ.
Khám xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 có các dấu vết: Mặt ngoài lốc máy bên phải bị trượt xước mất sơn màu bạc bám dính tạp chất màu đen dạng cao su. Bọc cao su bàn để chân phía trước bên phải bị bung bật khỏi vị trí ban đầu, bề mặt trượt xước mất cao su màu đen, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su kích thước 10x7cm, tâm vết cách đất 25cm. Cần giận nổ bị gãy rời khỏi vị trí lắp giáp ban đầu. Ngoài ra còn một số vết xây xước khác.
Hai xe bị hư hỏng nhẹ, các chủ sở hữu không yêu cầu đề nghị gì và từ chối định giá thiệt hại.
Quá trình điều tra, Đặng Xuân C khai nhận toàn bộ nội dung như trên.
Những người đại diện hợp pháp của bị hại khai: Khi xảy ra va chạm giữa xe ô tô do Đặng Xuân C điều khiển với xe mô tô do anh Phạm Văn S điều khiển thì những người đại diện không ai chứng kiến. Sau khi xảy ra va chạm, anh S bị chết, xe mô tô do anh S điều khiển (thuộc quyền sở hữu của chị H1 – vợ anh S) bị hỏng. Gia đình đã tổ chức mai táng cho anh S theo phong tục địa phương; C và đại diện gia đình đến phúng viếng anh S, bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 200.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho C. Về tài sản đã nhận lại đầy đủ, không yêu cầu bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ (do ông Nguyễn Hữu T2, đại diện theo ủy quyền trong giai đoạn điều tra) khai: Đặng Xuân C ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ từ năm 2011, nhiệm vụ của C là lái xe. Trong hợp đồng lao động không thể hiện cụ thể trách nhiệm của C khi điều khiển xe ô tô vi phạm giao thông thế nào, tuy nhiên hai bên thỏa thuận nếu C vi phạm giao thông thì C phải chịu trách nhiệm. Đối với xe bị hỏng do nguyên nhân khách quan thì Công ty chịu chi phí sửa chữa; nếu xe bị hỏng do nguyên nhân chủ quan
thì C chịu trách nhiệm sửa chữa. Sáng ngày 19/4/2024, C điều khiển xe ô tô BKS 15B-031.95 thuộc quyền sở hữu của Công ty đến đón công nhân tại xưởng may T3 từ xã T đến xã T, huyện K để làm việc. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, ông nhận được thông tin C điều khiển xe gây tai nạn tại thôn A, xã T. Ông trực tiếp đến hiện trường giải quyết sự việc, được biết anh S bị chết, xe ô tô do C điều khiển bị hỏng, xe mô tô do anh S điều khiển bị hỏng. Sau đó C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình anh S đầy đủ. Đối với xe ô tô bị hỏng không lớn nên Công ty không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu C bồi thường. Công ty đã nhận lại tài sản đầy đủ, không yêu cầu, đề nghị gì.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 (kèm một số mảnh vỡ), 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 15H1-200.71, 01 khẩu trang, 01 mũ bảo hiểm cho người đại diện hợp pháp của bị hại; trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 (kèm một số mảnh vỡ), 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 giấy chứng nhận kiểm định cho Công ty TNHH Đ là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng D mang tên Đặng Xuân C, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Đặng Xuân C đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại tổng số tiền 200.000.000đồng (gồm thiệt hại tính mạng cho anh S và tiền cấp dưỡng cho 03 con anh S), đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm; tuy nhiên trước khi xét xử, C đã tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 đồng cho đại diện gia đình bị hại là giá trị chiếc xe mô tô bị hỏng. Công ty TNHH Đ không yêu cầu đề nghị gì về chi phí sửa chữa xe ô tô 15B-031.95.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra bị cáo khai: Bị cáo không quen biết, không có mâu thuẫn gì với anh S cũng như gia đình anh S. Bị cáo có giấy phép lái xe hạng D từ 09/11/2022 đến ngày 09/11/2027 hết hạn. Sáng ngày 19/4/2024 bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 15B-031.95 của Công ty TNHH Đ vàng, chở công nhân đi làm. Khi đến gần ngã tư xã T, bị cáo nhìn thấy anh S điều khiển xe mô tô với tốc độ rất nhanh, khoảng 60km/h (ở phía tay trái bị cáo) tiến vào ngã tư nhưng bị cáo nghĩ không thể va chạm với xe bị cáo nên bị cáo giảm tốc độ xe để qua ngã tư. Không ngờ tai nạn xảy ra, xe bị cáo va chạm vào xe anh S, làm anh S ngã ra đường. Thấy vậy, bị cáo cùng một số người trên xe xuống đưa anh S đi cấp cứu, xong bị cáo đến Công an huyện K đầu thú. Sau bị cáo biết anh S bị chết. Bị cáo cùng người thân trong gia đình đến gia đình anh S xin lỗi, phúng viếng và bồi thường cho gia đình anh S 200.000.000 đồng. Trước khi xét
xử, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 đồng cho đại diện gia đình anh S là giá trị xe mô tô bị hỏng. Tổng số tiền bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh S là 210.000.000 đồng. Số tiền trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Vũ Thị H (là người đại diện hợp pháp của bị hại) khai: Bà là mẹ đẻ của anh S, đồng thời bà được chị H1 (vợ anh S) ủy quyền toàn quyền tham tố tụng để giải quyết vụ án. Ý kiến của bà chính là ý kiến của chị H1. Bà giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra bà khai: Chiếc xe mô tô BKS 16H1-200.71, anh S điều khiển va chạm với xe ô tô bị cáo gây tai nạn là tài sản của chị H1- vợ anh S. Bà không biết anh S có bằng lái xe mô tô hay không. Sau khi tai nạn, anh S chết. Bị cáo và gia đình đã đến gia đình bà xin lỗi, phúng viếng và bồi thường 200.000.000 đồng (gồm thiệt hại tính mạng cho anh S và tiền cấp dưỡng cho 03 con anh S). Sau đó bị cáo tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 là giá trị xe mô tô bị hỏng (mặc dù gia đình bà không yêu cầu bồi thường thêm). Nay bà xác định tai nạn xảy ra không ai mong muốn. Bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất, được cải tạo tại địa phương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ vàng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong đơn vẫn giữ nguyên không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị thiệt hại xe ô tô của Công ty.
Bản cáo trạng số 45/CT-VKSKT, ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố Đặng Xuân C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên cáo trạng, truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Xuân C: Từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại tổng số tiền 210.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Công ty TNHH Đ không yêu cầu chi phí sửa chữa xe ô tô 15B-031.95 nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Đặng Xuân C nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không mong muốn xảy ra sự việc này, rất ân hận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2] Lời khai của bị cáo; lời khai của đại diện bị hại; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của những người làm chứng; kết quả khám nghiệm hiện trường; kết quả khám nghiệm phương tiện; kết luận giám định tử thi cùng vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 19/04/2024 tại ngã 4 đường C giao với đường D thuộc thôn A, xã T, huyện K; Đặng Xuân C có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15B-031.95 tham gia giao thông đường bộ, không giảm tốc độ xe để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi vào ngã tư nơi giao nhau với đường bộ cùng mức, là vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, vi phạm khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 do anh Phạm Văn S điều khiển, làm anh S bị chết. Hành vi của bị cáo vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ làm chết một người nên bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đúng như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị tại phiên tòa.
[3] Tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo đồng thời để phòng ngừa tội phạm.
[4] Nhân thân bị cáo: Không có tiền án, tiền sự
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại có lỗi một phần khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, không giảm tốc độ xe để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi vào ngã tư nơi nơi giao nhau với đường bộ cùng mức, không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì; gia đình bị cáo có đơn xin bảo lĩnh, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[7] Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, C2 hành nghề lái xe đối với bị cáo như thời gian mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại tổng số tiền 210.000.000đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Đ không yêu cầu chi phí sửa chữa xe ô tô 15B-031.95 nên không xem xét giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 Giấy phép lái xe hạng D mang tên Đặng Xuân C. Căn cứ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự,
Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[11] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp không phải chịu án phí hoặc được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; những người đại diện hợp pháp của bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong vụ án này, anh S không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15H1-200.71 của vợ là chị Vũ Thị H1 nhưng chị H1 không giao xe cho anh S điều khiển nên không bị xử lý là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Xuân C.
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân C: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đặng Xuân C cho Ủy ban nhân dân phường V, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự như sau:
- Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách".
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng D mang tên Đặng Xuân C nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bà H, chị H1 (đồng thời đại diện cho các cháu H2, N, T1) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Công ty TNHH Đ vàng có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Khúc Thị Minh |
Đặng Thị Đôi |
Vũ Thị Dịu |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
