|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:52/2024/HS – ST. Ngày:15/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Kim Liên
2. Ông Nguyễn Duy Tính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Đức P, sinh ngày 01/6/1979; Tên gọi khác:Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Tiến C (đã chết)và bà Hoàng Thị Q, sinh năm1948, mẹ bị cáo hiện ở khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Ngô Thị H, sinh năm 1984; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 09/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 10 phút ngày 03/01/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại khu F, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra đối với người này. Tại chỗ, người này tự khai họ tên là Bùi Đức P – sinh năm 1979, nơi thường trú: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, P tự giác lấy từ túi áo bên trái đang mặc 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng mặt trong màu vàng bên trong có chứa chất bột cục, màu trắng và khai nhận đây là số ma tuý Heroine của P, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P; thu giữ, niêm phong 01 gói ma tuý có đặc điểm như đã nêu trên. Đồng thời, thu giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ số IMEI trong nguồn 357375096991828 kèm 01 sim trong máy số 0925991560.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Bùi Đức P. Kết quả dương tính: P có sử dụng ma tuý.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột, cục màu trắng thu giữ khi bắt quả tang đối với Bùi Đức P. Tại bảnKết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý; có tổng khối lượng là 0,150 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”
H1 lại đối tượng giám định là 0,139 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Bùi Đức P khai nhận như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý Heroine nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/01/2024 P một mình đi nhờ xe máy của người qua đường không quen biết đến khu vực thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Tại đây, P gặp một người đàn ông giới thiệu tên T khoảng hơn 30 tuổi (P không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), hỏi và mua được của T 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng mặt trong màu vàng bên trong có chứa chất bột cục, màu trắng là ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng. Sau đó P cất gói ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc đi nhờ xe máy một người qua đường không quen biết để tìm nơi sử dụng, còn T đi đâu P không biết. Khi P đi đến khu vực gần trường mầm non thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ P xuống xe, đi bộ tìm nơi sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V kiểm tra, lập biên bản và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.
Ngoài ra, Bùi Đức P khai nhận vào 19 giờ ngày 01/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên P đã đi đến khu vực vòng xuyến gần Nhà máy G thuộc thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ tìm mua ma tuý Heroine. Tại đây, P mua được của một nguời đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng rồi cầm gói ma tuý về nhà và sử dụng hết cho bản thân.
Về vật chứng, tài sản bị thu giữ: 01 bì niêm phong số 25/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,139 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ số IMEI trong nguồn 357375096991828 kèm 01 sim trong máy số 0925991560 là điện thoại của P, dùng để liên lạc hàng ngày. Vật chứng và tài sản trên đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS-VT ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Bùi Đức P1 tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Đức P. Đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Đức P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức P mức hình phạt từ: 18 (mười tám) tháng tù đến 21 (hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu màu đen đã cũ, số IMEI trong nguồn: 357375096991828 của Bùi Đức P.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,139 gam chất cục bột màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 phòng bì niêm phong có số 25/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0925.991.560 của Bùi Đức P.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 03/01/2024, tại khu F, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ,Bùi Đức P có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,150 gam ma tuý, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác – Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Bị cáo Bùi Đức P là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy.Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt,chưa tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Bố mẹ đẻ bị cáo là người có công với cách mạng: Mẹ đẻ của bị cáo P là bà Hoàng Thị Q được Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bố đẻ của bị cáo là ông Bùi Tiến C được Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Qua xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo Bùi Đức P không có tài sản nào khác ngoài 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen đã cũ, số IMEI trong nguồn: 357375096991828 do cơ quan điều tra thu giữ, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu xung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,139 gam chất cục bột màu trắng còn lại sau giám định là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối 01 sim số 0925.991.560 kèm trong máy của Bùi Đức P không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 01/01/2024 của P. Ngày 29/01/2024, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên T bán ma tuý cho P vào trưa ngày 03/01/2024 và người đàn ông bán ma túy cho P vào tối ngày 01/01/2024, do P không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của P không có tài liệu nào khác chứng minh Cơ quan điều tra không xác định được nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.
2. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,139 gam chất cục bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 phòng bì niêm phong có số 25/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0925.991.560 của Bùi Đức P.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
3. Hình phạt bổ sung:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen đã cũ số IMEI trong nguồn: 357375096991828.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Đức P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Trang |
Bản án số 52/2024/HS – ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 52/2024/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức Ph phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
