TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HS-PT Ngày 15-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Nâu.
Các Thẩm phán:
1. Ông Nguyễn Hải Vinh;
2. Bà Phạm Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Linh Hương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/HSPT ngày 29/01/2024, đối với bị cáo Tô Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2023/HS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Tô Văn D, sinh năm 1978, tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 01/12; Dân tộc: Cao lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn H (đã chết) và bà Trạc Thị T; Vợ: Đàm Thị H1; Con: Có 04 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người tham gia tố tụng khác nhưng do không có kháng cáo và kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi sáng ngày 18/8/2023, Tô Văn D cùng với ông Tống Văn T1, ông Nịnh Văn Q; anh Tô Văn N; bà Đàm Thị H1; bà Tô Thị T2,; chị Nịnh Thị Đ và chị Dương Thị T3, sinh năm 1984, cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng nhau đi vào trong khu vực rừng B, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang để cắt cây bạch đàn thuê cho ông Đặng Văn B, sinh năm 1967, trú ở cùng thôn. Việc thuê cắt cây bạch đàn được ông B thỏa thuận bằng miệng với ông Tống Văn T1, sau đó ông T1 rủ những người nêu trên cùng cắt cây bạch đàn. Khi đến nơi thì Tô Văn D dùng cưa máy để cắt cây bạch đàn, những người còn lại có nhiệm vụ đi thu gom cây để bốc lên xe. Khoảng 14 giờ cùng ngày khi Tô Văn D dùng cưa máy cắt cây bạch đàn, có chiều dài 18,8m, tán lá có kích thước 1,6 x 2,4m, do D không thông báo trước là đang cắt cây nên chị Dương Thị T3 không biết nên đã đi đến gần khu vực Dậu đang cắt cây. Khi cây bạch đàn bị cắt đổ xuống đã va đập mạnh vào phần trán của chị T3 làm chị T3 ngã xuống đất. Sau khi xảy ra sự việc, thấy có tiếng mọi người hô hoán về việc chị T3 bị cây bạch đàn đổ vào người thì D mới biết. Lúc này chị T3 đang nằm dưới đất vẫn tỉnh táo, D đỡ chị T3 ngồi dậy nhưng sau đó chị T3 đã ngất lịm đi, máu từ phần trán và mũi chảy ra. Mọi người đã đưa chị T3 lên võng khiêng về nhà và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện B1, tuy nhiên do vết thương nặng nên chị T3 đã tử vong cùng ngày.
Cùng ngày 18/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường là khu vực rừng B thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang của gia đình ông Đặng Văn B, sinh năm 1967: vị trí số (1) là gốc cây bạch đàn bị cưa đổ, cách mặt đất 14cm, đường kính 15cm. Vị trí ký hiệu số (2) là thân cây bạch đàn bị cưa đổ, nghiêng chiều T4 sang Đ. Từ vị trí bị cắt đổ đến ngọn cây dài 18m80; cuối cây ký hiệu số (2) có tán lá kích thước (1,6 x 2,4)m. Tâm gốc cây số (1) đến đầu vết cắt số (2) là 52cm; xung quanh có nhiều cây bạch đàn đổ nghiêng cùng chiều với cây số (2). Vị trí số (3) là đám chất màu nâu đỏ (nghi máu), kích thước (45 x 16)cm; tâm (3) cách cây ký hiệu số (2) gần nhất là 80cm; trên thân cây ký hiệu số (2) không thấy chất dính màu nâu đỏ; thu giữ chất màu nâu đỏ nghi máu tại vị trí ký hiệu số (3) bám dính trên 02 chiếc lá bạch đàn khô. Quá trình khám nghiệm đã thu giữ mẫu chất màu nâu đỏ, nghi máu niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “Mẫu thu tại vị trí số (3). Cơ quan điều tra đã giao lại cho gia đình ông Đặng Văn B quản lý đối với 01 cây bạch đàn, có đặc điểm dài 18,8m, tán lá có kích thước 1,6 x 2,4m.
Kết quả khám nghiệm tử thi đối với người bị hại Dương Thị T3: Vùng trán có 02 vết thương rách da bờ mép không gọn không rõ hình dạng, vết trên sát đường chân tóc kích thước (7,5 x 2,5)cm, lóc tổ chức dưới da về phía dưới; vết hai cách vết một 0,8cm về phía dưới, kích thước (0,4 x 3)cm, lóc tổ chức dưới da về phía dưới qua đó để lộ tổ chức sương hộp sọ. Cánh mũi và môi trên có vết trầy xước da bầm tím kích thước (02 x 2,5) cm, hai lỗ mũi có dịch bọt dạng nấm bọt; Mổ tử thi: kiểm tra vùng đầu qua vết thương vùng trán thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán hai bên, lóc tổ chức dưới da từ trên xuống dưới. Sập vỡ xương hộp sọ vùng trán hai bên và xương trần vùng hốc mắt phải, qua đó có nhiều máu không đông chảy ra; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thu giữ mẫu máu tử thi niêm phong vào phong bì thư dán kín, ký hiệu M1.
Ngày 08/9/2023, ông Tống Văn T1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc cưa máy có phần thân máy màu cam, tay cầm màu đen, lưỡi cưa bằng kim loại dạng dây xích là chiếc máy cưa của ông T1 do Tô Văn D sử dụng để cắt cây ngày 18/8/2023.
Ngày 18/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 225 về nguyên nhân chết của chị Dương Thị T3. Tại Kết luận giám định tử thi số 1719/KLGĐTT-KTHS ngày 18/9/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Các tổn thương chính trên cơ thể: Bầm tím xung quanh hốc mắt hai bên; Hai lỗ mũi và khoang miệng có nhiều máu không đông chảy từ trong ra; Vùng trán có 02 vết thương rách da, bờ mép không gọn, không rõ hình dạng. Kiểm tra vùng đầu qua vết thương vùng trán thấy: Bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán hai bên, lóc tổ chức dưới da từ trên xuống dưới. Sập vỡ xương hộp sọ vùng trán hai bên và xương trần hốc mắt phải, qua đó có nhiều máu không đông chảy ra. Kết luận: Nguyên nhân chết của Dương Thị T3 do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng trán và trần hốc mắt phải”.
Ngày 20/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L có Công văn số 1086/CV-CSĐT đề nghị Phòng K Công an tỉnh B nêu rõ cơ chế hình thành các thương tích trên cơ thể Dương Thị T3. Tại Công văn số 771/KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B trả lời cơ chế hình thành thương tích như sau: “Tổn thương rách da, lóc tổ chức dưới da về phía dưới vùng trán được hình thành do tác động của vật tày, với lực mạnh, hướng từ trên xuống dưới gây vỡ xương hộp sọ vùng trán hai bên và xương trần hốc mắt phải. Vết trầy xước, bầm tím da vùng cánh mũi và môi trên được hình thành do tác động của vật tày, bề mặt không nhẵn tạo nên”.
Ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu chất màu nâu đỏ nghi là máu bám dính trên 02 lá cây bạch đàn khô thu giữ tại vị trí ký hiệu số (3). Tại bản kết luận giám định số HT542.23/PY-XNSH ngày 20/9/2023 của V- Cục Q1 xác định: Mẫu chất màu nâu đỏ nghi là máu bám dính trên 02 lá cây bạch đàn khô thu giữ tại vị trí ký hiệu số (3) ở hiện trường gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Dương Thị T3 (ký hiệu M1).
Bản Cáo trạng số 135/CT-VKS-LNg ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2023/HS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/12/2023, bị cáo Tô Văn D có đơn kháng cáo, nội dung đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Tô Văn D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, với lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, do sơ xuất trong công việc, bản thân là lao động chính trong gia đình, nuôi vợ và con nhỏ, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hạnh chế về nhận thức pháp luật, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường thêm cho đại diện người bị hại số tổng cộng là 40.000.000₫ và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình và nội dung kháng cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn D, giữ nguyên mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Tô Văn D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo
Bị cáo Tô Văn D không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo, HĐXX thấy: Khoảng 14 giờ ngày 18/8/2023 tại khu vực rừng B thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Tô Văn D sử dụng 01 chiếc cưa máy có phần thân máy màu cam, tay cầm màu đen, lưỡi cưa bằng kim loại dạng dây xích để cắt cây bạch đàn. Do trước khi cắt cây bạch đàn Dậu không thông báo cho những người đang ở xung quanh biết nên khi Dậu cắt cây bạch đàn có đặc điểm dài 18,8m, tán lá có kích thước 1,6 x 2,4m, đã đổ trúng vào phần đầu, mặt chị Dương Thị T3 đang ở gần đó. Hậu quả chị T3 bị vỡ xương hộp sọ vùng trán, trần hốc mắt phải và tử vong cùng ngày. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại điểm khoản 1 điều 128 Bộ luật hình sự.
Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm đã xét xử bị cáo cáo Tô Văn D về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại điểm khoản 1 điều 128 Bộ luật hình sự là có căn cứ nên bị cáo không thắc mắc gì về tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy:
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo bị cáo đã thực hiện.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Ngoài các tình tiết định tội và định khung hình phạt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 10.000.000đ cho đại diện người bị hại nên nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện: Ngày 14/3/2024, bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường thêm cho đại diện người bị hại số tiền 40.000.000₫ và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo là người dân tộc Cao Lan, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm và nhiều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có nơi cư trú ổn định, cụ thể, rõ ràng và đủ điều kiện để được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm những người đại diện cho bị hại có mặt tại phiên tòa tha thiết thiết đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo nên HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, công đồng và xã hội như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Tô Văn D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn D, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Tô Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Tô Văn D không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Nâu |
Bản án số 52/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vô ý làm chết người
- Số bản án: 52/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Văn D - Vô ý làm chết người
