Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/DS-ST

Ngày 14 tháng 8 năm 2024

V/v “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Đời
  • Ông Nguyễn Kim Thành

-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về "Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S, địa chỉ trụ sở: 266 -268 đường N, phường V, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức T - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Quốc C, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ theo Quyết định v/v uỷ quyền ký hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng Giám đốc và Giấy uỷ quyền số 08/2024/UQ-CNĐN ngày 20/3/2024 của Giám đốc chi nhánh Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Tú T, sinh năm: 1995, địa chỉ: P312 khu Chung cư C, tổ 40 phường N, quận S, thành Phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đại diện Ngân hàng TMCP S trình bày:

Vào ngày 10/01/2023 bà Trần Thị Tú T có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng thẻ tín dụng, bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của bà T, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn áp dụng 2,60%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được Ngân hàng quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, kích hoạt sử dụng cho đến tháng 7/2023 bà T đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền: 327.951.490 đồng. bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 279.502.000 đồng, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, trong đó thanh toán gốc 277.953.000 đồng, phí 1.499.000 đồng, phí vượt hạn mức 50.000 đồng.

Từ ngày 25/8/2023, bà T bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 26/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Việc chậm thanh toán nợ của bà T vi phạm các điều khoản và điều kiện đã qui định tại hợp đồng đã ký.

Tại phiên toà, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị Tú T trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 14/8/2024 là 76.214.482 đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc: 57.460.478 đồng;
  • Nợ lãi phát sinh tính đến ngày 14/8/2024: 18.754.004 đồng

Bà Trần Thị Tú T có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn bà Trần Thị Tú T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bà vẫn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi.

-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử và tại các phiên toà là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không chấp hành quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà Trần Thị Tú T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 76.214.482 đồng. Trong đó: Dư nợ gốc: 57.460.478 đồng, nợ lãi phát sinh tính đến ngày 14/8/2024 18.754.004 đồng, bà Trần Thị Tú T có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Bà Trần Thị Tú T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/01/2023, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định bà Trần Thị Tú T có mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP S, bà T đã thực hiện giao dịch với số tổng tiền 327.951.490 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn áp dụng 2,60%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ nêu trên, thấy rằng việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.

[2.3]. Từ khi mở thẻ cho đến nay, bà Trần Thị Tú T thực hiện giao dịch với tổng số tiền 327.951.490 đồng, đã thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền 279.502.000 đồng. bà T bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 25/8/2023.

Xét thấy: Bà Trần Thị Tú T đã thực hiện giao dịch rút tiền trong thẻ tín dụng tuy nhiên lại không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn là đã vi phạm Điều 2 và Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, do đó Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Trần Thị Tú T và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn là có cơ sở theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

[2.4. Tại phiên toà, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Tú T phải thanh toán toàn bộ số tiền là 14/8/2024 là 76.214.482 đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 57.460.478 đồng, nợ lãi phát sinh tính đến ngày 14/8/2024: 18.754.004 đồng, bà Trần Thị Tú T có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Xét thấy: Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí tranh chấp dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là 76.214.482 đồng x 5% = 3.810.724 đồng, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 280 Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Thị Tú T

1. Buộc bà Trần Thị Tú T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 76.214.482 đồng (Bảy mươi sáu triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bốn trăm tám mươi hai đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc: 57.460.478 đồng;
  • Nợ lãi phát sinh tính đến ngày 14/8/2024: 18.754.004 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/01/2023. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Tú T phải chịu 3.810.724 đồng (Ba triệu, tám trăm mười nghìn, bảy trăm hai mươi bốn đồng)

Ngân hàng TMCP S không chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 1.643.305 đồng (Một triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn, ba trăm lẻ năm đồng) Ngân hàng TMCP S đã nộp theo biên lai thu số: 0002513 ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng.

3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán

  • Số bản án: 52/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger