1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 14 tháng 6 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tổng và ông Trần Quang Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/5/1974. Nơi cư trú: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T1 (đã chết) và bà Trần Thị B (đã chết); anh em ruột có 10 người, bị cáo là người thứ mười; vợ tên Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1981; con tên Nguyễn Hoàng Tuấn H, sinh năm 2010.
Tiền án: Ngày 23/11/2023, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm tù và phạt tiền bổ sung 20.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến ngày 21/02/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Lê Tấn B1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
2/ Chị Trần Thị Mộng T2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
3/ Bà Lê Thị Kim G, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
4/ Chị Lê Thị Cẩm E, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
1/ Lê Tấn P, sinh năm 2014.
Người đại diện theo pháp luật của Lê Tấn P: Chị Lê Thị Cẩm E, sinh năm 1985.
2/ Chị Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1983.
3/ Bà Phan Thị S1, sinh năm 1971.
4/ Bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm 1976.
5/ Chị Trần Thị Mộng N, sinh năm 1988.
6/ Chị Lê Thị L, sinh năm 1987.
7/ Chị Lê Trần Thị Ngọc C, sinh năm 1986.
8/ Bà Lý Kim Q, sinh năm 1965.
(Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/11/2023, Nguyễn Thanh T bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt y án sơ thẩm 03 năm tù và phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, T tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức (bài cào 3 lá) được thắng thua bằng tiền mỗi ván 50.000 đồng cùng với Lê Thị L, Nguyễn Thị Bích T3, Phan Thị S1, Lý Kim Q, Trần Thị Mộng T2, Lê Thị Ngọc H1, Lê Thị Kim G, Trần Thị Mộng N trước sân nhà của Lê Thị Cẩm E ở ấp V, xã V, huyện T thì bị Công an xã V phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:
- - Tiền trên chiếu bạc 1.772.000 đồng.
- - Tiền trên người các đối tượng: 719.000 đồng, trong đó Nguyễn Thanh T 211.000 đồng; Trần Thị Mộng T2 64.000 đồng; Lê Thị Kim G 444.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 của Lê Thị L.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 của Trần Thị Mộng T2.
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia của Lê Thị Kim G.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB và 01 điện thoại Nokia của Nguyễn Thanh T.
- - 02 chiếc chiếu; 10 bộ bài loại 52 lá.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T khai: Số tiền 1.772.000 đồng tại chiếu bạc, trên người các đối tượng 719.000 đồng bị Công an thu giữ, trong đó của T 211.000 đồng; Tuyền 64.000 đồng; G 444.000 đồng. Trước khi bị Công an phát hiện T tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván số tiền 50.000 đồng, thắng 01 ván, thua 01 ván và T làm nhà cái 02 ván, thua 400.000 đồng; L tham gia 06 ván, mỗi ván 50.000 đồng, thua 200.000 đồng, ván bị bắt quả tang đặt 100.000 đồng; Mộng Tuyền tham gia đặt 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng, thua 100.000 đồng, làm cái 02 ván, ván thứ nhất thắng 200.000 đồng, do Mộng N và 01 người không rõ họ tên hùn 200.000 đồng nên hòa tiền, ván thứ hai bị bắt qua tang; H1 tham gia khoảng 06 ván, mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thua 600.000 đồng; Q tham gia 05 ván, mỗi ván 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thua 250.000 đồng, hòa tiền 50.000 đồng, ván bị bắt quả tang đặt 100.000 đồng; Sớm hùn tiền 20.000 đồng với người không xác định, đặt 01 ván thua; Bích Tuyền tham gia 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng thua, đến ván thứ ba bị bắt quả tang; Nghi tham gia 03 ván, mỗi ván 50.000 đồng đều thua; G tham gia 06 ván, mỗi ván 50.000 đồng ăn thua không nhớ rõ, đến ván cuối đặt 100.000 đồng; Cẩm E tổ chức đánh bạc lấy tiền xâu 10.000 đồng trên ván bài khi nhà cái thắng, từ ngày 08/02/2024 đã thu tiền xâu được 100.000 đồng. Riêng ngày 15/02/2024, Lê Tấn P (con của Cẩm E) tổ chức nhưng chưa thu tiền xâu.
Đến ngày 20/02/2024, T bị khởi tố điều tra.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 cho Trần Thị Mộng T2; 01 điện thoại di động hiệu Nokia cho Lê Thị Kim G; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 cho Lê Thị L.
Tại Bản cáo trạng số 47/CT-VKSTS-HS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều khai phù hợp như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Nói lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước Tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 23/11/2023, Nguyễn Thanh T bị kết án 03 năm tù về tội đánh bạc. Đến ngày 15/02/2024, T tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền 500.000 đồng.
Căn cứ quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
[3.1] Bị cáo T là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng để trật tự công cộng, an ninh xã hội tại địa phương và gây hoang mang dư luận. Bị cáo đã có một tiền án về hành vi đánh bạc do đó hơn ai hết bị cáo hiểu rõ và nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ trong thời gian chưa chấp hành án, bị cáo phải sửa đổi, sống và lao động theo đúng quy định pháp luật nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là muốn sát phạt nhau để có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vả, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát là cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và có thời gian cho bị cáo sửa đổi.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
[3.3] Về hình phạt: Xét về tính chất nguy hiểm của hành vi, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải biện pháp kịp thời và hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi của bị cáo để đáp ứng với tình hình chính trị tại địa phương cũng như phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt.
[3.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời không buộc bị cáo khấu trừ thu nhập theo quy định.
[4] Đối với Lê Thị L, Nguyễn Thị Bích T3, Phan Thị S1, Lý Kim Q, Trần Thị Mộng T2, Lê Thị Ngọc H1, Lê Thị Kim G, Trần Thị Mộng N có hành vi tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật. Do những người này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T công văn đề nghị Công an xã V, huyện T xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Lê Thị Cẩm E, Lê Tấn P, sinh năm 2014 có hành vi tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và Cẩm E chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc và P chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T
không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cẩm E, P về tội “Tổ chức đánh bạc” và có công văn đề nghị Công an xã V, huyện T xử lý vi phạm hành chính đối với Cẩm E là có căn cứ.
Lê Tấn B1 (chồng của Cẩm E) để Cẩm E, P tổ chức đánh bạc tại nhà, tuy nhiên B1 không biết và không hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B1 về tội “Tổ chức đánh bạc” là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc.
- - Trả lại cho bị cáo hai điện thoại di động không liên quan đến vụ án và tiền cá nhân của bị cáo không dùng vào mục đích đánh bạc.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tổng hợp hình phạt Bản án số 887/2023/HS-PT ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội đánh bạc. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng Gold, số seri: F2LY4LDFKPHF và 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 (Loại có phím số), màu đen, số seri: 350391250633772 (tất cả đã qua sử dụng) và số tiền 211.000 đồng (hai trăm mười một nghìn đồng).
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.280.000 đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chiếc chiếu, 10 (mười) bộ bài loại 52 lá (tất cả đã qua sử dụng).
(Tất các vật chứng này hiện do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Vân |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt Bản án số 887/2023/HS-PT ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội đánh bạc. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
