|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/DS-ST Ngày 14-5-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Nguyễn Văn Vân.
- 2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 733/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Đặng Minh S, chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện C, Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (Ủy quyền theo giấy uỷ quyền số 208/QĐ-NHNo.CT-KHKD ngày 20-10-2023), có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Ngô Công K, sinh năm 1977, vắng mặt.
- Bà Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1978, vắng mặt
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 14-7-2022 ông Ngô Công K, bà Trần Thị Tuyết H và Ngân hàng N (viết tắt là Ngân hàng A) ký vay vốn số tiền 300.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 tại Ngân hàng A, mục đích vay mua sắm vật dụng gia đình, nuôi bò sinh sản, ngày đến hạn thanh toán là 36 tháng kể từ ngày vay, lãi suất 11%/năm, hình thức giải ngân: nhận tiền mặt. Các kỳ hạn trả nợ: ngày 14-7-2023: trả 100.000.000 đồng, ngày 14-7-2024: 100.000.000 đồng và ngày 14-7-2025: 100.000.000 đồng, kỳ hạn trả lãi: 01 tháng/lần vào ngày 14 hàng tháng, hình thức bảo đảm tiền vay: ông K, bà H thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 9953,6m² thuộc thửa số 04, 06; tờ bản đồ số 17 theo giấy theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt giấy CNQSDĐ) số CH1284/005715.TK.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28-10-2013 cho Ngô Công K đứng tên là tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng A theo Hợp đồng thế chấp số 387/2022/HĐTC ngày 14-07-2022 do Văn phòng C công chứng cùng ngày và có đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T chi nhánh C. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông K bà H số tiền trên vào ngày 15-7-2022.
Hợp đồng này ông K, bà H ngưng trả gốc, lãi từ ngày 16-01-2023 cho đến nay. Đến ngày 20-10-2023, ông K, bà H nợ Ngân hàng tiền gốc 300.000.000 đồng, lãi 34.232.875 đồng, tổng cộng gốc và lãi 334.232.875 đồng.
Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông K, bà H trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, lãi đến ngày 14-5-2023 là 68.569.845 đồng, trong đó lãi trong hạn là 58.857.534 đồng, lãi quá hạn là 5.814.384 đồng, lãi chậm trả là 3.897.927 đồng, tổng cộng gốc và lãi 368.569.845 đồng. Đồng thời, ông K, bà H tiếp tục phải chịu lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp ông K, bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn:
Bị đơn ông Ngô Công K, bà Trần Thị Tuyết H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông K, bà H vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A buộc ông K, bà H có trách nhiệm thanh toán nợ số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, lãi đến ngày 14-5-2023 là 68.569.845 đồng, trong đó lãi trong hạn là 58.857.534 đồng, lãi quá hạn là 5.814.384 đồng, lãi chậm trả là 3.897.927 đồng, tổng cộng gốc và lãi 368.569.845 đồng.
Trường hợp ông K, bà H trả xong số tiền gốc và lãi trên, cũng như tiền lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì hợp đồng thế chấp số 387/2022/HĐTC ngày 14-07-2022 hết hiệu lực. Ngân hàng A có trách nhiệm trả lại cho ông K, bà H giấy CNQSDĐ số CH1284/005715.TK.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28-10-2013 cho Ngô Công K đứng tên. Trường hợp ông K, bà H không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Ngô Công K, bà Trần Thị Tuyết H là bị đơn trong vụ án đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N thì thấy rằng:
[2.1] Về các hợp đồng tín dụng:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cho rằng 14-7-2022 ông Ngô Công K, bà Trần Thị Tuyết H và Ngân hàng A ký vay vốn số tiền 300.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 tại Ngân hàng A. Hợp đồng trên ông K, bà H ngưng trả gốc, lãi từ ngày 16-01-2023 cho đến nay. Đến ngày 14-5-2023, ông K, bà H nợ Ngân hàng tiền gốc 300.000.000 đồng, lãi là 68.569.845 đồng. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với chứng cứ hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn ông Ngô Công K, bà Trần Thị Tuyết H vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông K, bà H trả số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và số tiền nợ lãi 68.569.845 đồng là phù hợp theo Điều 6 của hợp đồng tín dụng đã ký kết, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016.
Ông K, bà H tiếp tục phải chịu lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15-5-2023.
[2.2] Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho số tiền vay tại Hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 ngày 14-7-2022, ông K, bà H đã ký Hợp đồng thế chấp số 387/2022/HĐTC ngày 14-07-2022 để thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 9953,6m² thuộc thửa số 04, 06 tờ bản đồ số 17 đất tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH071284/005715.TK.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28-10-2013 cho Ngô Công K đứng tên. Hợp đồng thế chấp số 387/2022/HĐTC ngày 14-07-2022 do Văn phòng C công chứng cùng ngày và có đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T chi nhánh C.
Do đó, khoản nợ tại hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 ngày 14-7-2022 là khoản nợ có bảo đảm.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Tòa án nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các đương sự phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 317, 318 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 22 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19-3-2021 quy định thi hành bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
1.1. Ông Ngô Công K và bà Trần Thị Tuyết H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 14-5-2024 tổng cộng số tiền 368.569.845 (ba trăm sáu mươi tám triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn tám bốn mươi lăm) đồng, bao gồm nợ gốc theo hợp đồng tín dụng là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, trong đó lãi trong hạn là 58.857.534 (năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi bốn) đồng, lãi quá hạn là 5.814.384 (năm triệu tám trăm mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi bốn) đồng, lãi chậm trả là 3.897.927 (ba triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm hai mươi bảy) đồng.
1. 2. Ông Ngô Công K và bà Trần Thị Tuyết H tiếp tục phải chịu tiền lãi đối với các khoản tiền nợ gốc kể từ ngày 15-5-2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 ngày 14-7-2022.
1. 3. Trường hợp ông Ngô Công K và bà Trần Thị Tuyết H thanh toán xong số tiền nợ gốc 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng và tiền lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng số 5706LAV202202587 ngày 14-7-2022 cho Ngân hàng N thì Hợp đồng thế chấp số 387/2022/HĐTC ngày 14-07-2022 hết hiệu lực. Ngân hàng N có trách nhiệm trả lại cho ông K, bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01284/005715.TK.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28-10-2013 cho Ngô Công K đứng tên. Trường hợp ông K, bà H không thanh toán được nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Công K và bà Trần Thị Tuyết H phải chịu 18.428.492 (mười tám triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi hai) đồng.
Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 8.355.822 (tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm hai mươi hai) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008506 ngày 07-11-2023.
Đương sự trong vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Phượng |
Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
