|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-9-2024 V/v “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Thiện Khiêm;
- Ông Bùi Quốc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham
gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Đặng Thị Hương L, sinh năm: 1986.
Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1977.
Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Hương L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T tự tìm hiểu nhau và tự nguyện chung sống vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh vào ngày 27 tháng 4 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T cờ bạc. Bà và ông T ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông T không có giải pháp hàn gắn gia đình. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Bà và ông T không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và được triệu tập đến tham gia phiên hòa giải hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến và cũng không gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà L và việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên Tòa trình bày:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, cho bà L được ly hôn với ông T.
- + Về nuôi con: không có con chung.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đăng ký thường trú tại ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bà Đặng Thị Hương L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông T theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Bà L và ông T trên cơ sở hôn nhân tự nguyện chung sống từ năm 2012, quá trình chung sống đã thực hiện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 27/2012 vào ngày 27 tháng 4 năm 2012, nên hôn nhân của bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[2.2] Qua trình bày của bà L và kết quả xác minh của Tòa án về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T thể hiện: ông T và bà L chung sống đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên đánh bạc, uống rượu về chưởi bới bà L, không chăm lo cho gia đình dẫn đến ly thân, trong thời gian ly thân cả hai cũng không có giải pháp khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Có cơ sở nhận định hôn nhân giữa bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T.
[3] Về nuôi con: ghi nhận bà L và ông T không có con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Hương L đối với ông Nguyễn Văn T.
Bà Đặng Thị Hương L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về nuôi con: ghi nhận bà Đặng Thị Hương L và ông Nguyễn Văn T không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Đặng Thị Hương L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012251 ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Bà L đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
Ông T không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lan, ông T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Như tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chu Y |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Đặng Thị Hương L với Nguyễn Văn T
