Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án: 52/2024/HS-ST

Ngày:13-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm Nhân dân:

Ông Trần Xuân Thu;

Bà Hoàng Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế L và bà Nguyễn Thị L1; vợ là Nguyễn Thị L2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G; “Có mặt”.

  2. Cao Duy B, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1991, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân V và bà Trần Thị T; vợ là Nguyễn Thị H1, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

  3. Cao Văn C, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1987, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân T1 và bà Đặng Thị T2; vợ là Phạm Thị T3 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

  4. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1982; tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Trần Thị B1; vợ là Đỗ Thị Y và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

  5. Nguyễn Văn C1, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1991; tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Trần Thị N; vợ là Y Ư (đang ly thân), sống như vợ chồng với chị Y N1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

  6. Nguyễn Văn B2, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1981; tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T5 và bà Cao Thị C2; vợ là Nguyễn Thị T6, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

  7. Phạm Văn V1, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1982; tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá V2 và bà Hà Thị B3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 02 năm 2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác; hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Đoàn Hữu N2, anh Nguyễn Văn Đ1; “Vắng mặt".

- Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Huy D; “Vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 22 tháng 02 năm 2024, Nguyễn Văn H gọi điện rủ Cao Văn C, Nguyễn Văn B2, Cao Duy B và Nguyễn Văn C1 đến nhà H đánh liêng ăn tiền. C, Ba, C1 đồng ý còn B trả lời không đến được. Sau đó H đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ và nước ngọt để phục vụ cho việc đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, B, C lần lượt đến nhà H. Ngoài ra còn có Đoàn Hữu N2 và Nguyễn Văn Đ đến nhà H chơi, uống nước. Lúc này, H rủ mọi người xuống gian phòng bếp nhà mình để đánh bạc rồi trải chiếu, thảm nỉ và lấy 02 bộ bài tú lơ khơ, nước ngọt để phục vụ. B, Đ, C đồng ý và cùng H thống nhất đánh liêng ăn tiền với mức độ vào gà 20.000 đồng/ván, tố cao nhất 200.000 đồng; ai được liêng, đồng hoa thì ăn của mỗi người còn lại 60.000 đồng, ai được sáp thì ăn của mỗi người còn lại 100.000 đồng và ra chiếu cho H một suất tương ứng, còn N2 ngồi xem. Khi H, B, Đ, C đang đánh bạc thì lần lượt có C1, Ba đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Một lúc sau lần lượt có Nguyễn Văn Đ1 và Phạm Văn V1 đến nhà H. Võ vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng còn Đ1 ngồi xem. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 đang đánh bạc ăn tiền thì bị tổ công tác Công an huyện G phối hợp cùng Công an thị trấn Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.860.000 đồng, thu trên người các đối tượng 8.610.000 đồng, trong đó có 6.110.000 đồng các đối tượng sử dụng để đánh bạc; 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa, 01 thảm nỉ, 08 điện thoại và 06 xe máy các loại.

Quá trình khám xét nhà ở của Nguyễn Văn H, tổ công tác còn giữ 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai

Nguyễn Văn H khai nhận: Khi đánh bạc H có 920.000 đồng, bỏ ra 100.000 đồng để đánh trước, quá trình đánh bạc H được tiền ra chiếu của các đối tượng 220.000 đồng, sử dụng luôn để trừ vào tiền đánh bạc của mình; khi bị bắt H bị thu giữ 200.000 đồng dưới chiếu bạc và 820.000 đồng trên người.

Cao Duy B khai nhận: B mang theo số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, B bị thu giữ 780.000 đồng dưới chiếu bạc.

Nguyễn Văn Đ khai nhận: Đ mang theo số tiền 1.640.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, Đ bị thu giữ 2.840.000 đồng dưới chiếu bạc.

Cao Văn C khai nhận: C mang theo 2.400.000 đồng để đánh bạc, bỏ ra 200.000 đồng đánh trước, còn 2.200.000 đồng cất trên người. Khi bị bắt, C bị thu giữ 640.000 đồng dưới chiếu bạc và 2.200.000 đồng trên người.

Nguyễn Văn C1 khai nhận: C1 mang theo 4.000.000 đồng, chỉ sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, bỏ ra 500.000 đồng đánh trước. Khi bị bắt, C1 bị thu giữ 1.340.000 đồng dưới chiếu bạc và 3.500.000 đồng trên người.

Nguyễn Văn B2 khai nhận: Ba mang theo 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, Ba bị thu giữ 3.360.000 đồng dưới chiếu bạc

Phạm Văn V1 khai nhận:Võ mang theo 2.670.000 đồng để đánh bạc, bỏ ra 580.000 đồng đánh trước, còn lại 2.090.000 đồng cất trên người. Khi bị bắt, V1 bị thu giữ dưới chiếu bạc 460.000 đồng và thu trên người 2.090.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 49/CT-VKS-GT ngày 02 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện VKSND huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định hành vi của các bị cáo Nguyên Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 đã sử dụng tổng số tiền 15.970.000 đồng vào việc đánh bạc (đánh liêng ăn tiền) nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 đã cấu thành tội “Đánh bạc”.Vì vậy đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.Về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; xử phạt các bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Cao Duy B và Phạm Văn V1 mỗi bị cáo từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giữ.

Về hình phạt bổ sung: Điều kiện kinh tế và thu nhập của các bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 15.970.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc và 04 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn H, Cao Văn C, Cao Duy B, Nguyễn Văn B2 sử dụng liên lạc để đánh bạc; tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa, 01 thảm nỉ các đối tượng sử dụng để đánh bạc; 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng thu giữ khi khám xét.

Về án phí các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã thực hiện là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương và miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, với lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại nhà Nguyễn Văn H ở Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh liêng; số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 15.970.000 đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo H, B, C, Đ, C1, Ba, V1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc "theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là phù hợp và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh liêng ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt phù hợp:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, bị cáo V1 từng là bộ đội T và bố đẻ là người có công được tặng thưởng nhiều Huân, huy chương; nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng, gọi điện thoại rủ các bị cáo đến nhà ở của mình, chuẩn bị công cụ, để bị cáo cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc; có thu hồ từ việc cho các bị cáo khác đánh bạc tại nhà mình; tuy nhiên chỉ có 07 người đánh bạc trên 01 chiếu bạc và lượng tiền sử dụng vào đánh bạc là 15.970.000 đồng nên bị cáo H không phạm tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo Điều 322 Bộ luật Hình sự. Thời gian đánh bạc và số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc tương đương nhau. Như vậy bị cáo Nguyễn Văn H có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án; các bị cáo khác có vai trò ngang nhau.

[5] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo: Nguyễn Văn H, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn B2 và Nguyễn Văn C1; Phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phạm Văn V1 và Cao Duy B cũng đủ để răn đe giáo dục, như quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo điều kiện gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

  • Đối với số tiền 15.970.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc và 04 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Iphone 5S của Cao Văn C 01 điện thoại di động OPPO A16, Cao Duy B 01 điện thoại di động 6S Plus và của Nguyễn Văn B2 01 điện thoại di động OPPO Reno 8T các bị sử dụng liên lạc để rủ nhau đánh bạc cần tịch thu hoá giá sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 chiếu nhựa, 01 thảm nỉ các đối tượng sử dụng để đánh bạc; 03 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu huỷ.
  • Đối với 2.500.000 đồng, 04 điện thoại và 06 xe máy là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Cao Văn C, Phạm Văn V1, Đoàn Hữu N2 và Nguyễn Văn Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo và anh N2, anh Đ1 là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 phạm tội “Đánh bạc".

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23-02-2024 đến nay). Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn H ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
    • + Xử phạt bị cáo Cao Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B2 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024).

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:

    • + Xử phạt bị cáo Phạm Văn V1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ số ngày bị cáo bị bắt tạm giữ trước khi xét xử là 06 ngày, quy đổi 06 x 3 = 18 ngày (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). Như vậy bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 12 ngày.
    • + Xử phạt bị cáo Cao Duy B 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ số ngày bị cáo bị bắt tạm giữ trước khi xét xử là 06 ngày, quy đổi 06 x 3 = 18 ngày (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). Như vậy bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 12 ngày.

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Văn B2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao các bị cáo Cao Duy B và Phạm Văn V1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo tính từ ngày UBND thị trấn Q nơi cư trú được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với cả 02 bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền số tiền 15.970.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc.
    • - Tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước 04 chiếc điện thoại các loại đã thu giữ cụ thể: Của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Iphone 5S của Cao Văn C 01 điện thoại di động OPPO A16, Cao Duy B 01 điện thoại di động 6S Plus và của Nguyễn Văn B2 01 điện thoại di động OPPO Reno 8T các bị sử dụng liên lạc để rủ nhau đánh bạc.
    • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chiếu nhựa, 01 thảm nỉ 03 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

    (Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng và biên lai thu tiền số: 0003177 lập ngày 02-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn Chung, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - Công an huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - UBND thị trấn Q;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu VT; hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về đánh bạc

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Duy B, Cao Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B2 và Phạm Văn V1 phạm tội “Đánh bạc”. - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23-02-2024 đến nay). Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn H ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. + Xử phạt bị cáo Cao Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B2 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: + Xử phạt bị cáo Phạm Văn V1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ số ngày bị cáo bị bắt tạm giữ trước khi xét xử là 06 ngày, quy đổi 06 x 3 = 18 ngày (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). Như vậy bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 12 ngày. + Xử phạt bị cáo Cao Duy B 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ số ngày bị cáo bị bắt tạm giữ trước khi xét xử là 06 ngày, quy đổi 06 x 3 = 18 ngày (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 23-02-2024 đến ngày 28-02-2024). Như vậy bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 17 tháng 12 ngày.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger