|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/KDTM-ST Ngày: 12-8-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Phối
- 2. Bà Lê Thị Ngọc
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, T. Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Tố Phong – Kiểm sát viên.
Vào ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST - KDTM ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXX-ST ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C; Trụ sở: A T, Q. H, TP .; Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Minh B – Chủ tịch HĐQT là Người đại diện theo pháp luật; Bà Ngô Thị Vũ H – Phó Trưởng phòng tổng hợp - Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B1 có địa chỉ trụ sở: 66A Lê Duẩn, TP ., T. B là Người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản số 215/TB-CNBĐI-TCTH ngày 02/4/2024) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê T, sinh năm 1961 (vắng mặt); bà Kiều Thị Ánh L, sinh năm: 1970 (có mặt); Cùng địa chỉ: G N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
NHẬN THẤY:
* Trong đơn khởi kiện nộp ngày 01/02/2024 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C và lời khai tiếp theo đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Ngô Thị Vũ H trình bày:
- Giữa Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 và ông Lê T, bà Kiều Thị Ánh L có ký hợp đồng vay vốn theo các Hợp đồng cho vay, cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay số: 121/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 06/4/2023: số tiền cấp tín dụng là 2.900.000.000 đồng. Hợp đồng cho vay số: 271/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 12/7/2023: số tiền cấp tín dụng là 4.900.000.000 đồng và Hợp đồng cho vay số: 281/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 19/7/2023: số tiền cấp tín dụng là 2.500.000.000 đồng với mục đích kinh doanh dịch vụ cà phê, giải khát, mua bán tạp hóa các loại; thời hạn cho vay và lãi suất theo giấy nhận nợ, tối đa không quá 12 tháng.
- Ông T và bà L đã nhận nợ toàn bộ hạn mức cho vay theo 04 giấy nhận nợ như sau: Giấy nhận nợ ngày 06/4/2023, số tiền nhận nợ là 2.900.000.000 đồng, lãi suất 10,1%/năm. Giấy nhận nợ ngày 12/7/2023, số tiền nhận nợ là 1.000.000.000 đồng, lãi suất 8,7%/năm. Giấy nhận nợ ngày 12/7/2023, số tiền nhận nợ là 3.900.000.000 đồng, lãi suất 8,0%/năm và Giấy nhận nợ ngày 19/7/2023, số tiền nhận nợ là 2.500.000.000 đồng; lãi suất 8,7%/năm.
- Để đảm bảo các khoản vay trên ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L đã đồng ý thế chấp các tài sản của ông bà theo các Hợp đồng thế chấp tài sản như sau:
- + Quyền sử dụng đất tại Khu QH phân lô TĐC tại chợ K, phường Q, thành phố Q, Bình Định theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/19/HĐBD/NHCT540-VB ngày 17/10/2019.
- + Quyền sử dụng đất và căn nhà tại Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 48/17-HĐTC-VB ngày 13/4/2017, Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 48/17-HĐTC-VB/SD1 ngày 12/4/2019, số 48/17-HĐTC-VB/SD2 ngày 03/12/2021 và số 48/17-HĐTC-VB/SD3 ngày 12/7/2023.
- + Quyền sử dụng đất và căn nhà tại Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 78/19/HĐBĐ/NHCT540-VB ngày 05/8/2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T bà L phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ nợ lãi hàng tháng và nợ gốc theo quy định của hợp đồng cho vay nhưng ông T bà L đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đã vi phạm từ kỳ trả lãi ngày 12/01/2024. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đôn đốc nhắc nhở và yêu cầu ông T, bà L thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông bà không thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng nên nợ gốc và lãi đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 12/8/2024 ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L còn nợ Ngân hàng TMCP C tổng số tiền là: 11.018.811.372 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 10.300.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 643.683.341 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 75.128.031 đồng).
Nay Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L phải thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 11.018.811.372 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 10.300.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 643.683.341 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 75.128.031 đồng) cho Ngân hàng và ông T bà L tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 13/8/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký.
- Nếu ông T bà L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ tiền gốc và lãi vay thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T bà L để thu hồi nợ.
* Bị đơn bà Kiều Thị Ánh L trình bày: Bà là vợ ông Lê T, bà thống nhất ông bà có khoản vay là 10.300.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 vào năm 2023, tài sản thế chấp là các tài sản của ông bà tại địa chỉ phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định, bà đã vi phạm về điều kiện trả nợ cho ngân hàng từ ngày 12/01/2024 do kinh tế khó khăn, ảnh hưởng của dịch Covid-19. Nay bà đồng ý trả nợ gốc trên cho Ngân hàng nhưng đề nghị được trả dần và xin được miễn tiền lãi.
Bị đơn ông Lê T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Lê T đến Tòa để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên xét xử, nhưng ông T vẫn không đến Tòa để làm việc theo quy định.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm thời hạn xét xử. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng nhưng bị đơn còn vi phạm.
Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 292, 299, 317, 318 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C, buộc bị đơn ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc và lãi còn nợ với tổng số tiền là 11.018.811.372 đồng, đồng thời tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất theo các Hợp đồng cho vay số 121/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 06/4/2023, Hợp đồng cho vay số 271/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 12/7/2023, Hợp đồng cho vay số 281/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 19/7/2023. Trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ trên thì Ngân hàng có quyền đề nghị xử lý tài sản bảo đảm là các quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại địa chỉ: phường Q, TP , tỉnh Bình Định theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BN 762251, số vào sổ cấp GCN: CH01109, do U cấp ngày 22/4/2013; số phát hành: CI 222135, số vào sổ cấp GCN: CS03045 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/4/2017; số phát hành CR 896557, số vào sổ cấp GCN: CS04909 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/7/2019. Về án phí các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện và lời trình bày của đương sự đối chiếu với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án Tòa xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại: G N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định khoản 1 Điều 30, tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa bị đơn ông Lê T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố dụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C yêu cầu ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L thanh toán nợ gốc, lãi vay và yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp HĐXX thấy rằng:
Giữa Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 và ông Lê T, bà Kiều Thị Ánh L có thỏa thuận ký các hợp đồng vay vốn cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay số: 121/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 06/4/2023, số tiền cấp tín dụng 2.900.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số: 271/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 12/7/2023, số tiền cấp tín dụng 4.900.000.000 đồng và Hợp đồng cho vay số: 281/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 19/7/2023, số tiền cấp tín dụng 2.500.000.000 đồng, với mục đích kinh doanh dịch vụ cà phê, giải khát, mua bán tạp hóa các loại; thời hạn cho vay và lãi suất theo giấy nhận nợ không quá 12 tháng. Sau khi ký kết các hợp đồng cho vay nói trên ông T và bà L đã nhận toàn bộ hạn mức cho vay theo 04 giấy nhận nợ ngày 06/4/2023 số tiền là 2.900.000.000 đồng, ngày 12/7/2023 số tiền là 1.000.000.000 đồng, ngày 12/7/2023 số tiền là 3.900.000.000 đồng và ngày 19/7/2023 số tiền là 2.500.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 10.300.000.000 đồng. Việc vay vốn giữa Ngân hàng với ông Lê Thanh b Kiều Thị Ánh L là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, BLDS năm 2015 nên các Hợp đồng cho vay số:121/2023/HĐCV/NHCT540 -VB ngày 06/4/2023; Hợp đồng cho vay số: 271/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 12/7/2023 và Hợp đồng cho vay số: 281/2023/HĐCV/NHCT540-VB ngày 19/7/2023 có hiệu lực pháp luật.
Để đảm bảo các khoản vay trên ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L đã đồng ý thế chấp các tài sản của ông bà theo các hợp đồng thế chấp tài sản như sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/19/HĐBĐ/NHCT540-VB ngày 17/10/2019 thế chấp Quyền sử dụng đất tại Khu QH phân lô TĐC tại chợ K, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 48/17-HĐTC-VB ngày 13/4/2017, Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 48/17-HĐTC-VB/SD1 ngày 12/4/2019, số 48/17-HĐTC-VB/SD2 ngày 03/12/2021 và số 48/17-HĐTC-VB/SD3 ngày 12/7/2023 thế chấp Quyền sử dụng đất và căn nhà tại Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 78/19/HĐBĐ/NHCT540-VB ngày 05/8/2019 thế chấp Quyền sử dụng đất và căn nhà tại Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Khi xác lập các hợp đồng thế chấp tài sản trên các bên hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, Ngân hàng đã đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp trên tại Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Định - CN thành phố Q. Do đó, căn cứ Điều 117, 317, 319 BLDS năm 2015 các hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên là hoàn toàn hợp pháp.
[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Thanh bà Kiều Thị Ánh L1 đã không thực hiện đúng theo cam kết trong hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông bà thanh toán các khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng ông bà vẫn không thực hiện là vi phạm về quyền và nghĩa vụ bên vay về thanh toán phí, lãi và nợ gốc, bên cạnh đó theo quy định tại Điều 9, Phần II Điều kiện, điều khoản chung của hợp đồng về chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn thì Ngân hàng TMCP C được quyền thu hồi nợ trước hạn đối với các khoản vay còn lại của bị đơn tại Ngân hàng. Tại phiên Tòa bà L1 thống nhất còn nợ số tiền gốc và lãi như Ngân hàng yêu cầu, nhưng đề nghị được trả dần số tiền nợ gốc và xin được miễn trả tiền lãi nhưng không được Ngân hàng đồng ý. HĐXX căn cứ theo Điều 3. 9 Phần II của Hợp đồng tín dụng, Điều 463, 466 BLDS 2015 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng khởi kiện ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L1. Buộc ông T, bà L1 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 11.018.811.372đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 10.300.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 643.683.341 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 75.128.031 đồng) và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất được quy định tại các Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn là có căn cứ theo quy định pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Theo thỏa thuận tại các Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký thì trong trường hợp ông Lê Thanh bà Kiều Thị Ánh L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản đã thế chấp là nhà và đất tại Khu QH phân lô TĐC tại chợ K, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BN 762251, số vào sổ cấp GCN: CH01109, do U cấp ngày 22/4/2013 và tại Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CI 222135, số vào sổ cấp GCN: CS03045 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/4/2017, và số phát hành CR 896557, số vào sổ cấp GCN: CS04909 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/7/2019 để thu hồi nợ. Việc nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là có căn cứ theo quy định các Điều 292, 299, 317, 318 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Như vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Buộc ông Lê T và bà Kiều Thị Ánh L1 phải có nghĩa trả cho Ngân hàng TMCP C tổng cộng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/8/2024 là 11.018.811.372 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 10.300.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 643.683.341 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 75.128.031 đồng) và tiếp tục trả lãi trên số dư nợ gốc phát sinh từ ngày 13/8/2024 trở đi cho đến ông T bà L1 khi thanh toán hết nợ, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay. Trong trường hợp ông T bà L1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T bà L1 để thu hồi nợ là có căn cứ và phù hợp qui định pháp luật.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ hết 5.000.000 đồng, Ngân hàng TMCP C đã tạm ứng, ông Lê Thanh bà Kiều Thị Ánh L1 phải chịu nên có nghĩa vụ hoàn lại 5.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP C.
[4] Về án phí KDTMST: Căn cứ Điều 12, 13, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016. Ông Lê T được miễn nộp án phí vì là người cao tuổi, bà Kiều Thị Ánh L1 phải chịu 29.755.000 đồng (đã được xét giảm ½ vì có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có đơn xác nhận của UBND nơi cư trú)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về quá trình giải quyết vụ án. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Điều 228 BLTTDS.
- - Áp dụng các Điều 117, 119, 292, 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- - Căn cứ Điều 12, 13, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C.
- Buộc ông Lê Thanh b Kiều Thị Ánh L1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C tổng số tiền là: 11.018.811.372 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 10.300.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 643.683.341 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 75.128.031 đồng), lãi suất được tính đến ngày 12/8/2024 và tiếp tục trả lãi trên số dư nợ gốc phát sinh từ ngày 13/8/2024 trở đi cho đến khi ông T bà L1 thanh toán hết nợ, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay.
- Nếu ông Lê Thanh b Kiều Thị Ánh L1 không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ vay trên thì Ngân hàng C có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số 105/19/HĐBĐ/NHCT540-VB ngày 17/10/2019; số 48/17-HĐTC-VB ngày 13/4/2017, văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 48/17-HĐTC-VB/SD1 ngày 12/4/2019, số 48/17-HĐTC-VB/SD2 ngày 03/12/2021, 48/17-HĐTC-VB/SD3 ngày 12/7/2023 và số 78/19/HĐBĐ/NHCT540-VB ngày 05/8/2019 giữa Ngân hàng TMCP C- Chi nhánh B1 với ông Lê Thanh bà Kiều Thị Ánh L1 để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ hết 5.000.000 đồng, Ngân hàng TMCP C đã tạm ứng, ông Lê Thanh bà Kiều Thị Ánh L1 phải chịu nên có nghĩa vụ hoàn lại 5.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP C.
- Về án phí KDTMST:
- - Ông Lê T được miễn nộp tiền án phí vì người cao tuổi.
- - Bà Kiều Thị Ánh L1 phải chịu 29.755.000 đồng án phí KDTMST (đã được xét giảm ½).
- - Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần C 59.205.000 đồng tiền tạm ứng án phí KDTMST đã nộp theo biên lai số 0000494 ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn.
Ngân hàng thương mại cổ phần C, bà Kiều Thị Ánh L1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Dung |
Bản án số 52/2024/KDTM-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
