TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HSST.
Ngày: 12 - 8 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Cầm Văn On, bà Cầm Thị Quyến.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1978 tại: Huyện N, tỉnh Ninh Bình; số định danh cá nhân: 037078005367; nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, tên gọi khác: Lê Xuân T2 (Đã chết) và bà Bùi Thị T3, sinh năm: 1955; bị cáo có vợ là Quàng Thị B, sinh năm 1973 và có 02 con (L sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Bản án số: 09/2009/HSST ngày 13/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lê Văn T 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; bản án số: 10/2013/HSST ngày 26/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 tháng tù về tội đánh bạc.
Trong vụ án này bị cáo bị tạm giữ ngày 15/4/2024, chuyển tạm giam ngày 24/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Tòng Văn B1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976 tại: Thành phố S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014076001780; nơi cư trú: Bản B, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn H, sinh năm 1957 và bà Lù Thị T4, sinh năm: 1961; bị cáo có vợ là Hà Thị S, sinh năm 1978 và có 04 con (Lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ 15/4/2024, chuyển tạm giam ngày 24/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi liên quan: Chị Hà Thị S, sinh năm 1978; nơi cư trú: Bản B, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, tổ công tác Công an xã D phối hợp hợp với Công an xã S, huyện S, tỉnh Sơn La làm nhiệm tại khu vực bản T, xã S, huyện S phát hiện bắt quả tang Tòng Văn B1 (Sinh năm 1976, trú tại bản B, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La) về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
- T5 trong lòng bàn tay phải của Tòng Văn B1 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bộ liên kết màu trắng, Tòng Văn B1 khai nhận là H1;
- 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Realme;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave a, biển kiểm soát 26F1-010.60.
Quá trình lấy lời khai ban đầu Tòng Văn B1 khai nhận nguồn gốc tiền mua ma tuý là do Lê Văn T (Sinh năm 1978, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S) đưa B1 mua ma tuý về để cùng nhau sử dụng.
Cùng ngày (15/4/2024) cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S tiến hành triệu tập Lê Văn T để điều tra làm rõ. Tại cơ quan Điều tra Lê Văn T đã thừa nhận hành vi đưa tiền cho Tòng Văn B1 để mua ma tuý cùng nhau sử dụng. Vật chứng Lê Văn T giao nộp là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J1. Lê Văn T đã bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Ngày 15/4/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Sơn La, tiến hành cân tịnh vật chứng là số bộ liên kết màu trắng do thu giữ của Tòng Văn B1 có tổng khối lượng là 0,22 gam. Lấy toàn bộ 0,22 gam, ký hiệu B làm mẫu gửi giám định.
Kết luận giám định số 919/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Heroine (H). Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam, loại Heroine (H) ".
Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La các bị can Tòng Văn B1 và Lê Văn T khai nhận hành vi bị khởi tố như sau:
Khoảng cuối tháng 3/2024, Tòng Văn B1 và Lê Văn T cùng đến bản Huổi Pót, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La để làm thuê tại công trình nước sạch nông thôn. Sáng ngày 15/4/2024, T gọi điện hỏi vay anh Lê Trọng T6 (Sinh năm 1982, trú tại tổ A, phường Q, TP S) 500.000 đồng, T nói với anh T6 mục đích vay tiền để thuê xe về nhà. Anh T7 đồng ý, tuy nhiên do T không có số tài khoản nên đã nhờ tài khoản của anh Pít Văn K (Sinh năm 1992, trú tại bản Huổi Pót, xã M, huyện S) để anh T7 chuyển tiền. Sau khi anh K nhận được số tiền 500.000 đồng do anh T7 chuyển tới, thì T gọi điện cho B1 hỏi có biết chỗ nào bán ma tuý không, nếu biết thì đi mua 500.000 đồng ma tuý về để cùng nhau sử dụng, B1 đồng ý nên T gọi điện bảo anh K chuyển số tiền vay của anh T7 vào tài khoản của B1. Binh điều khiển xe mô tô ra trung tâm huyện S rút số tiền 500.000 đồng sau đó điều khiển xe đến bản Khua Họ, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La để mua ma tuý. Khi đến khu vực bản Khua Họ thì B1 hỏi và mua được của 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. B1 cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe quay về bản Huổi Pót, xã M huyện S. Trên đường đi đến khu vực bản T, xã S, huyện S thì bị tổ công tác Công an xã D phối hợp hợp với Công an xã S, huyện S phát hiện bắt quả tang khi đang cầm trên tay gói ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,22 gam như đã nêu.
Cáo trạng số 41/CT - VKSSC ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố các bị can Lê Văn T và Tòng Văn B1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo từ 18 đến 22 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo từ 16 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc đựng ma tuý ban đầu.
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J1 (Do Lê Văn T giao nộp); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme (Do Tòng Văn B1 giao nộp).
- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan Hà Thị S 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a, biển kiểm soát 26F1-010.60.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc các bị cáo Lê Văn T và Tòng Văn B1 nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo T có ý kiến: Thừa nhận bản thân đã từng bị kết án về các tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Đánh bạc. Ngày 15/4/2024 bị cáo lại rủ rê đồng thời đưa cho bị cáo B1 500.000 đồng để mua ma tuý về cùng nhau sử dụng. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh vợ đang chấp hành án phạt tù bản thân đang phải nuôi 02 con nhỏ, mà giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo B1 có ý kiến: Thừa nhận ngày 15/4/2024 đã nghe theo lời rủ rê của bị cáo T cầm tiền đi mua 0,22 gam Heroine về để cùng nhau sử dụng. Nay bị cáo rất hối hận, đề nghị HĐXX xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội và khai báo hành vi phạm tội của bị cáo T mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà người có quyền lợi liên quan chị Hà Thị S có ý kiến: Việc bị cáo Tòng Văn B1 tự ý sử dụng xe mô tô (Tài sản chung của vợ chồng) làm phương tiện đi mua ma tuý chị không biết, không có lỗi. Do vậy đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a, biển kiểm soát 26F1-010.60 cho chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Lê Văn T và Tòng Văn B1 khai nhận sáng ngày 15/4/2024, tại bản Huổi Pót, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La, bị cáo T sau khi vay được tiền của anh họ là Lê Trọng T6 500.000 đồng chuyển nhờ vào tài khoản của anh Pít Văn K (Sinh năm 1992, trú tại bản Huổi Pót, xã M, huyện S) thì bị cáo T đã gọi điện cho bị cáo B1 nhờ B1 đi mua 500.000 đồng ma tuý về để cùng nhau sử dụng, bị cáo Binh nhất t nên bị cáo T gọi điện cho anh K bảo anh K chuyển số tiền vay của anh T6 vào tài khoản của bị cáo B1. Bị cáo B1 đi rút tiền từ cây ATM tại trung tâm huyện S sau đó điều khiển xe mô tô đến bản Khua Họ, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La để mua ma tuý. Trên đường về đến khu vực bản T, xã S, huyện S thì bị tổ công tác Công an xã D phối hợp hợp với Công an xã S, huyện S phát hiện bắt quả tang khi đang cầm trên tay gói Heroine, khối lượng 0,22 gam như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ là 0,22 gam ma tuý, H1; kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận các bị cáo T và B1 đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4] Hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam ma tuý, loại Heroine của các bị cáo nhằm sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý. Xâm hại đến chính sức khỏe của các bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho các loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn nghiện ma tuý tại địa phương. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, với mục đích trừng trị răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án các bị cáo đồng phạm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong đó bị cáo T giữ vai trò khởi xướng, bỏ tiền mua ma túy; bị cáo B1 giữ vai trò hưởng ứng tích cực sử dụng xe mô tô trực tiếp đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự; để xem xét tính chất, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo để quyết định hình phạt.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.
- Tình tiết nhân thân: Bị cáo T đã 02 lần bị kết án về các tội mua bán trái phép chất ma tuý và đánh bạc. Mặc dù tính đến thời điểm phạm tội trong vụ án này đã được xoá án tích, tuy nhiên cũng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu để xem xét khi quyết định hình phạt.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai nhận tội. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Bị cáo B1 sau khi bị bắt giữ đã khai ra đồng phạm là bị cáo T. Nên được áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ "Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm", quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,22 gam Heroine đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Do vậy tại phiên toà không đặt ra vấn đề xử lý; 01 mảnh giấy bạc đựng ma tuý ban đầu cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động (Nhãn hiệu Realme và SAMSUNG GALAXY J1) các bị cáo sử dụng để liên lạc liên quan đến quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc xe mô tô Wave a, biển kiểm soát 26F1-010.60. Kết quả điều tra xác định là tài sản chung vợ chồng bị cáo B1 cùng vợ là chị Hà Thị S, việc bị cáo B1 sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý chị S không biết. Do vậy căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Để tuyên trả lại chiếc xe cho người có quyền lợi liên quan Hà Thị S.
[9] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo B1 khai do mua của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản K, xã H, huyện S. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được thông tin về tên, tuổi, địa chỉ của đối tượng. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện S không có căn cứ để điều tra làm rõ.
[10] Án phí: Các bị cáo Lê Văn T và Tòng Văn B1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
[11] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 15/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Tòng Văn B1 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 15/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy dán niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn B1 - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/4/2024. Bên trong phong bì có 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh giấy bạc đựng ban đầu".
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu Realme C21Y, số IMEL1: 865510050877895, số IMEL2: 865510050877887, lắp 01 sim số 0963778567, lắp ốp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng (Tạm giữ của bị cáo Tòng Văn B1).
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, nhãn hiệu SASUNG Galaxy J1, số IMEL1: 3531200883737741, số IMEL2: 353121083737749, lắp 01 sim số 0386789875, đã qua sử dụng (Tạm giữ của bị cáo Lê Văn T).
- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan chị Hà Thị S: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave S, màu sơn đen - bạc, biển kiểm soát 26F1-010.60, số máy: JC52E4028590, số khung: RLHJC5200CY023842, xe không có 01 gương chiếu hậu, đã cũ qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc các bị cáo Lê Văn T và Tòng Văn B1 nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Báo cho các bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/8/2024).
Nơi nhận:
| T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |
Bản án số 52/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 52/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T và Tòng Văn B1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
