Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 12-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Bùi Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 12/7/2024 tại trụ sở nhà văn hoá thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Toà án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện T, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 14/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với các bị cáo:

- ĐẶNG THỊ BÍCH LIÊN, sinh năm 1982 tại Thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Số H phố C, khu D, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chưa xác định được bố và bà Đặng Thị Q; có chồng là Đỗ Khắc S và có 05 con; tiền án: Không; tiền án: Không; nhân thân: Bản án số 22/2007/HSST ngày 09/02/2007 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt L 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2013, nộp án phí ngày 26/7/2007; Bản án số 65/2015/HSST ngày 05/5/2015 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt L 06 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2015, miễn án phí ngày 25/8/2021; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 09/12/2014 của Công an phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc, chấp hành xong ngày 09/12/2014; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- HOÀNG VĂN THĂNG, sinh năm 1979 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L1 và bà Bùi Thị T; vợ là Nguyễn Thị Y (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 66/2016/HSST ngày 12/4/2016 của TAND quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xử phạt Thăng 10 tháng 17 ngày tù về tội Đánh bạc và trả tự do ngay tại phiên toà, do bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, miễn án phí ngày 27/8/2021; bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Trắc X, sinh năm 1975; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1985; vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  • + Anh Bùi Tuấn H, sinh năm 1978; vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Văn G, sinh năm 1999; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Bùi T1, sinh năm 1988; vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Chị Bùi Thị M, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, các anh Nguyễn Trắc X, Nguyễn Đăng Đ, Bùi Tuấn H, Hoàng Văn G, Nguyễn Bùi T1 không hẹn từ trước, lần lượt đến nơi ở của Hoàng Văn T2 tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương chơi. Tại đây, T2 cùng Đặng Thị Bích L2, chị Bùi Thị M đang ngồi ăn cơm ở phòng khách. Các anh X, Đ, H, G, T1 lần lượt vào phòng ngủ nơi ở của T2 để ngồi chơi. Tại nền nhà phòng ngủ, đã có sẵn một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cùng một bật lửa gas. Đặc điểm bộ dụng cụ gồm một chai nhựa nắp màu vàng trên nắp chai có gắn một coóng bằng thuỷ tinh, đầu còn lại của coóng gắn một ống hút màu trắng. Trong bầu coóng thuỷ tinh có chất tinh thể màu trắng là ma tuý, do L2 bỏ vào từ trước. Lúc này, L2 bảo nhóm của X, có ma tuý trong coóng, có chơi thì chơi, đồng thời L2 lấy trong ngăn kéo tủ một túi nilon bên trong có bám dính ma tuý và để xuống nền nhà chỗ mọi người đang ngồi và bảo mọi người sử dụng ma tuý. Thăng thấy vậy không ngăn cản, đồng ý để X, Đ, H, G, T1 dùng bộ dụng cụ của mình sử dụng trái phép ma tuý. Đ cầm bật lửa nung nóng ma tuý trong bầu coóng rồi sử dụng; X1, G, H, T1 lần lượt tự mình cầm bật lửa nung nóng ma tuý để sử dụng. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày (13/01/2024) thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện. Thu giữ một túi nilon màu trắng bên trong có chất bám dính dạng tinh thể màu trắng; một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý được tạo thành từ một chai nhựa bên trên nắp chai nhựa gắn một coóng bằng thuỷ tinh, bên trong bám dính chất dạng tinh thể màu trắng và một ống hút bằng nhựa cùng một bật lửa gas màu đỏ.

Tại Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 13/01/2024 của Trạm Y tế thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương xác định: Thăng, L2, X, H, Đ, G, T1 đều dương tính với ma tuý tổng hợp.

Tại Kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của phòng K, Công an tỉnh H, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong bầu coóng thuỷ tinh, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định, là ma tuý loại Methamphetamine; lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định, là ma tuý loại Methamphetamine; lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSHD-TH ngày 13/5/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố L2, T2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố các bị cáo L2, T2 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt: Liên từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án; Thăng từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam. Về hình phạt bổ sung, không áp dụng đối với các bị cáo. Về vật chứng, tịch thu, tiêu hủy các vật chứng được hoàn lại sau giám định. Về án phí, các bị cáo mỗi một người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có quan điểm giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án và được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà, nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nói trên không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.

[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo L2 và T2 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản vụ việc; lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án; các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 19 giờ 00 phút đến khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 13/01/2024 tại nơi ở trọ của T2 thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, L2 cùng T2 đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, công cụ, dụng cụ, cung cấp trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine cho các anh X, G, Đ, H, T1 để sử dụng trái phép chất ma tuý. Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ các hành vi như đã nêu ở trên là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước; gây nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của L2 và T2 đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về xác định vụ án đồng phạm, HĐXX xác định: Đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn vì không có sự câu kết, tổ chức chặt chẽ giữa các bị cáo. Tuy nhiên, cần phân tích đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án để xem xét mức hình phạt cho phù hợp. Đối với L2 là người khởi xướng, chuẩn bị ma tuý, trực tiếp bảo nhóm của X có ma tuý đá ở trong coóng, lấy thêm ma tuý đựng trong túi nilon để ở ngăn kéo tủ tại phòng ngủ của T2, để X, G, Đ, H, T1 sử dụng, nên giữ vị trí, vai trò thứ nhất trong vụ án. Đối với T2 là người chuẩn bị, tạo điều kiện về địa điểm là nơi ở của mình và các công cụ, dụng cụ để X, G, Đ, H, T1 cùng nhau sử dụng ma tuý, nên giữ vị trí, vai trò thứ hai trong vụ án, sau bị cáo L2.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xác định: Các bị cáo là người nhân thân xấu, đều bị Toà án kết án về tội Đánh bạc, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc; ngoài ra bị cáo L2 còn bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì niêm phong vật chứng hoàn lại sau giám định bên trong có một coóng bằng thuỷ tinh; một vỏ túi nilon màu trắng và một vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; một chai nhựa màu trắng trên nắp chai có gắn một ống hút bằng nhựa; một bật lửa gas màu đỏ. Xét đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu, tiêu hủy như theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7]. Về án phí: Các bị cáo L2, T2 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án:

[8.1]. Về nguồn gốc ma tuý X, G, Đ, H, T1 sử dụng trái phép tại nơi ở của T2 vào ngày 13/01/2024 là của bị cáo L2. L2 tự khai nhận mua của người đàn ông không biết tên tuổi, tại khu vực đường liên xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương - xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 13/01/2024. Quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho L2, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[8.2]. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của L2, T2 cũng như hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của X, G, Đ, H, T1 tại nơi ở của T2 tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 13/01/2024. Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L2, T2, X, G, Đ, H, T1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý, là đúng quy định của pháp luật.

[8.3]. Đối với ông Ngô Bá T3, sinh năm 1958 ở thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, là người cho T2 thuê nhà trọ; là nơi các bị cáo tổ chức để X, G, Đ, H, T1 sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 13/01/2024. Quá trình giải quyết vụ án, ông T3 không biết sự việc nói trên. Do vậy, không có căn cứ để xử lý ông Ngô Bá T3.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đặng Thị Bích L2.
  • - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Hoàng Văn T2.

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Bích L2, Hoàng Văn T2 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1 - Xử phạt bị cáo Đặng Thị Bích L2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

2.1 - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì niêm phong vật chứng số 125/KL-KTHS của phòng K, Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định bên trong có một cóong bằng thuỷ tinh, một vỏ túi nilon màu trắng, một vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, một chai nhựa màu trắng trên nắp chai có gắn một ống hút bằng nhựa; một bật lửa gas màu đỏ

Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ghi ngày 03/6/2024.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bi cáo L2, T2, mỗi một người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo những nội dung có liên quan của bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQ CSĐT, THAHS Công an huyện Thanh Hà;
  • - Công an huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; lưu Toà án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo L và bị cáo T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger