Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/DS-ST

Ngày: 12-7-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thống.

Bà Nguyễn Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Gây là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1. Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Tấn N – Trưởng phòng kế hoạch và kinh doanh Ngân hàng N1 chi nhánh huyện N (xin vắng).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Đặng Thị Kiều T. Sinh năm: 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L. Sinh năm: 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Ngân hàng N1 trình bày yêu cầu:

Ngày 05/12/2019 Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện N (gọi tắt là: Ngân hàng) ký kết hợp đồng tín dụng số 7509-LAV-201904938 với bà Đặng Thị Kiều T, cụ thể: Tổng mức cấp tín dụng tối đa 100.000.000 đồng; lãi suất cho vay 10%/năm; mục đích vay mua bán nhỏ; thời hạn vay 03 năm; cho vay tín chấp, Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 712307 do UBND huyện N cấp ngày 21/8/2017.Tính đến ngày 11/7/2024 tổng dư nợ của bà T là 114.513.698 đồng, trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 5.178.082 đồng và lãi quá hạn 9.335.616 đồng. Số tiền quá hạn thanh toán thời gian dài, phía Ngân hàng đã liên hệ bà T để thanh toán số nợ trên nhưng bà T không thực hiện việc trả nợ.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thanh toán toàn bộ số tiền vay tạm tính đến hết ngày 11/7/2024 tổng dư nợ của bà T tạm tính là 114.513.698 đồng, trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 5.178.082 đồng và lãi quá hạn 9.335.616 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến khi bà T trả hết nợ gốc cho nguyên đơn.

Trường hợp bà Đặng Thị Kiều T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L (chồng bà T) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.

* Đối với bị đơn bà Đặng Thị Kiều T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà bà T và ông L không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T và ông L vẫn không tham gia.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng N1 yêu cầu bà Đặng Thị Kiều T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L thanh toán tiền vay gốc và lãi suất còn nợ trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Bà T và ông L cư t tại ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngân hàng N1 có đơn xin vắng mặt phiên tòa sơ thẩm, đây là yêu cầu chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L vắng mặt phiên xét xử, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà T và ông L.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét về hợp đồng tín dụng số 7509-LAW-201904938 ngày 05/12/2019 của Ngân hàng đã ký kết với bà Đặng Thị Kiều T, vay số tiền 100.000.000 đồng, mục đích vay mua bán nhỏ, thời hạn duy trì hạn mức 03 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng, lãi suất vay 10%/năm, phương thức áp dụng lãi suất có điều chỉnh, cho vay tín chấp, Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 712307 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 21/8/2017.

Để đảm bảo khoản vay theo hợp đồng bà T đã giao cho Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 712307 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 21/8/2017, bà Đặng Thị Kiều T đứng tên.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng đến nay thì phía bà T chưa thanh toán nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng, phía Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ bà T để yêu cầu thanh toán gốc và lãi vay quá hạn cho Ngân hàng nhưng bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, bà T đã vi phạm hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vốn và nợ lãi, vì vậy ngoài khoản nợ gốc mà bà T phải thanh toán cho phía Ngân hàng thì cần phải buộc bà T thanh toán về các khoản lãi đã được quy định trong hợp đồng tín dụng. Mặt khác người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L là chồng bà T ký giấy ủy quyền cho bà T đứng vay khoản nợ trên. Mục đích vay là để mua bán nhỏ phục vụ cho gia đình nên được xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông L có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng là phù hợp. Cụ thể như sau:

  • - Nợ gốc với số tiền: 100.000.000 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 5.178.082 đồng.
  • - Nợ lãi quá hạn: 9.335.616 đồng.

Vậy tổng số tiền vay và lãi mà bà T và ông L phải thanh toán cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 114.513.698 đồng. Kể từ ngày 12/7/2024, hàng tháng bà T và ông L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi bà T và ông L tất toán xong nợ với Ngân hàng được thể hiện trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trường hợp bà T và ông L thực hiện tất toán xong khoản nợ thì phía Ngân hàng phải trả lại cho bà T và ông L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 712307 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 21/8/2017 đứng tên bà Đặng Thị Kiều T mà phía Ngân hàng đang giữ.

[3].Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch các đương sự phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L phải cùng liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 5.726.000 đồng (tính tròn).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 319, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng N1.

- Buộc bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L cùng có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 114.513.698 đồng.

Kể từ ngày 12/7/2024, hàng tháng bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi bà T và ông L tất toán xong nợ với Ngân hàng N1 được thể hiện trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trường hợp bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L thực hiện tất toán xong khoản nợ thì phía Ngân hàng phải có trách nhiệm trả lại cho bà T và ông L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 712307 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 21/8/2017 đứng tên bà Đặng Thị Kiều T mà phía Ngân hàng đang giữ.

[2]. Về án phí:

Bà Đặng Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn L phải cùng liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 5.726.000 đồng (tính tròn).

Ngân hàng N1 được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 2.980.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013773 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

[3]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự.
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 52/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger