TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/6/2024. Về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiệp
Ông Trần Thanh Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 454/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST -HN ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-HN ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa:
* Nguyên đơn: Chị Kh, sinh ngày 15/4/1985. (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh S, sinh ngày 02/4/1981. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị và anh S cưới nhau vào năm 2005, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến tháng 9/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống nên cả hai đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Có 03 con chung Đ, sinh ngày 05/5/2006, Q, sinh ngày 20/9/2009, Th, sinh ngày 06/10/2013. Cháu Đ đã trưởng thành đang sống với anh S, chị Kh yêu cầu được nuôi cháu Q, cháu Th và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Vụ kiện đã được Tòa án mở phiên hoà giải nhưng không hoà giải được do anh S không đến. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Không vi phạm tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Chị Kh và anh S kết hôn vào năm 2005, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2005 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị Kh và anh S thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành mời anh S để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh S không đến dự. Điều đó cho thấy anh S không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với chị Kh, chứng tỏ hôn nhân giữa chị Kh và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Kh yêu cầu ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kh.
[3] Về con chung: Có 03 con chung Đ, sinh ngày 05/5/2006, Q, sinh ngày 20/9/2009, Th, sinh ngày 06/10/2013. Cháu Đ đã trưởng thành đang sống với anh S, chị Kh yêu cầu được nuôi cháu Q, cháu Th (cả 02 cháu đều muốn sống với chị Kh) và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung, cần giao con cho chị Kh tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q, cháu Th là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Kh tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kh được ly hôn với anh S. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 18/7/2005 của UBND xã T, huyện B chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Có 03 con chung Đ, sinh ngày 05/5/2006, Q, sinh ngày 20/9/2009, Th, sinh ngày 06/10/2013, cháu Đạt đã trưởng thành. Chị Kh được nuôi dưỡng cháu Q, cháu Th và anh S không cấp dưỡng nuôi con.
Anh S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, buộc chị Kh phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Kh đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000450 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Kh xin ly hôn với anh S
