Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 11-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long Giang;

Ông Huỳnh Thanh Hưng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST–HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Bé T, sinh năm 1994 tại An Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; trình độ văn hóa: 01/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hòa hảo; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Bà Sơn Thị T1, sinh năm 1994; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Bé T là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp từ tháng 8/2023 cho tới nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 06 giờ ngày 03/01/2024, T đi xe ôm từ phòng trọ của mình tại khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương đến khu vực bến xe M thuộc phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương để mua ma túy của một đối tượng tên O (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.800.000 đồng. Đối tượng O đựng ma túy trong hộp thuốc lá (không rõ nhãn hiệu) bên trong có chứa 08 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu và 02 túi nylon bên trong chứa ma túy đá khi nhận được ma túy O nhận tiền từ T sau đó T di chuyển về phòng trọ và cất giấu ma túy trong phòng của mình.

Đến khoảng 18 giờ ngày 03/01/2024 Công an thị trấn L kiểm tra hành chính phòng trọ của Nguyễn Văn Bé T thì phát hiện trong chiếc giỏ bỏ ở góc phải trong phòng trọ của T có tám đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu và 02 túi nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tiếp tục kiểm tra thì phát hiện trong balo trên gác phòng trọ có một nắp nhựa màu đỏ bị đục hai lỗ có gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh và một nắp nhựa màu đen bị đục hai lỗ có gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh bên trong bầu thủy tinh có chứa tinh thể trắng. Sau khi phát hiện lực lượng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T cùng các tang vật thu giữ tại phòng trọ gồm:

  • - 08 (tám) đoạn ống hút nhựa ngắn hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể nghi ngờ là ma túy;
  • - 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy;
  • - 01 (một) nắp chai màu đỏ có gắn ống hút và ống thủy tinh;
  • - 01 (một) nắp chai màu đen có ống hút và ống thủy tinh trên bầu ống có chứa tinh thể màu trắng nghi ngờ là ma túy;

Ngày 03/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh B giám định khối lượng và thành phần ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Bé T. Mẫu cần giám định có hai bì thư được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người có đồ vật bị niêm phong Nguyễn Văn Bé T, chữ ký người chứng kiến Lê Thị Ngọc B, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Minh Đ; đại úy Trịnh Minh T2 (phó trưởng Công an thị trấn) và hình dấu đỏ của Công an thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ngày 12/01/2024 Phòng K Công an tỉnh B đã ban hành kết luận giám định số 321/KL – KTHS (MT) kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy loại Methaphetamine có khối lượng 0,2444 gam (M1 – 1); 0,5011 gam (M1 – 2); 0,3604 gam (M1 – 3); 0,3102 gam (M1 – 4); 0,1111 gam (M2). Tổng số ma túy của thu giữ của T là 1,5272 gam ma túy loại Methaphetamine. Mẫu hoàn lại sau giám định là 1,0641 gam ma túy loại Methaphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Bé T khai nhận biết O bán ma túy do được các đối tượng nghiện giới thiệu, T không biết nhân thân lai lịch của O và T đã mua ma túy của đối tượng tên O được khoảng 03 đến 04 lần. Những lần đầu mua ma túy của O thì T liên hệ qua số điện thoại di động tuy nhiên sau này T bị mất điện thoại nên không còn nhớ số điện thoại của O nữa. Do đã mua ma túy của O nhiều lần nên T biết O thường ở khu vực bến xe M, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên khi có nhu cầu mua ma túy T sẽ đến khu vực bến xe M chờ khoảng 05 – 06 phút sẽ có một nam thanh niên tới trao đổi việc mua bán ma túy sau đó người bán ma túy sẽ đi lấy ma túy khoảng 10 phút sau sẽ quay lại và đưa ma túy cho T.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn Bé T có sinh sống như vợ chồng với bà Sơn Thị Thanh việc Nguyễn Văn Bé T3 mua ma túy cất giấu trong phòng và bộ D sử dụng ma túy là của T3, bà T1 không biết do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với bà T1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng O bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 32/CT-VKSBB ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Bé T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B1 Tư mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M1 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhân mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M1-1 = 0,1606 gam; M1-2 = 0,3530 gam; M1–3 = 0,2756 gam; M1-4 = 0,2240 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M2 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M2 = 0,0509 gam; 01 (một) nắp chai màu đen gắn ống hút nhựa, ống thủy tinh; 01 (một) nắp chai màu đỏ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh là vật chứng của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 03/01/2024, bị cáo có hành vi cất giấu 08 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu và 02 túi nylon hàn kín trong phòng trọ của mình cùng 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tổng số ma túy thu giữ của bị cáo là 1,5272 gam ma túy loại Methaphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vây, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nha nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M1 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhân mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M1-1 = 0,1606 gam; M1-2 = 0,3530 gam; M1–3 = 0,2756 gam; M1-4 = 0,2240 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M2 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M2 = 0,0509 gam; 01 (một) nắp chai màu đen gắn ống hút nhựa, ống thủy tinh; 01 (một) nắp chai màu đỏ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh là vật chứng của vụ án.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bé T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bé T3 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M1 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhân mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M1-1 = 0,1606 gam; M1-2 = 0,3530 gam; M1 -3 = 0,2756 gam; M1-4 = 0,2240 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 321/PC09 M2 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 07 ngày 03/01/2024 của CQCSĐT – Công an huyện B, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Bé T3 (người chứng kiến); Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu); Nguyễn Đức N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, khối lượng mẫu niêm phong: M2 = 0,0509 gam; 01 (một) nắp chai màu đen gắn ống hút nhựa, ống thủy tinh; 01 (một) nắp chai màu đỏ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Công an huyện B – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger