Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 11-01-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Vì Thị Long Biên.

Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Đức H, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1991, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Tk 6, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tk 34, xã ĐS, huyện MC, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Mạnh H và bà Bùi Thị K; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: - Ngày 19/3/2019 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2020.

- Ngày 28/10/2020 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/11/2021.

- Ngày 28/11/2022 Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, bị cáo đang trong thời gian chấp hành án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến nay.

Tiền sự: Không.

Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu từ ngày 09/8/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Thị Hồng N, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2002, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: BB, xã ĐS, huyện MC, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn N và bà Lò Thị B; bị cáo chưa có chồng, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu từ ngày 09/8/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ ngày 09/8/2023, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu kiểm tra phát hiện tại Phòng số 107 nhà nghị Khanh Thuỷ có Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Khi tổ công tác kiểm tra H lấy trên giường nơi đang ngồi sử dụng ma tuý 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY ném vào phòng vệ sinh. Phát hiện thu giữ tại giường nơi H và N vừa ngồi 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc, 01 lọ nhựa tự chế. Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N khai số viên nén màu hồng là Methamphetamine và các dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ của Trần Đức H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, tạm giữ của Hoàng Thị Hồng N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và dẫn giải Trần Đức H, Hoàng Thị Hồng N về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.

Ngày 09/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N, kết quả: 10 viên nén màu hồng có khối lượng 0,9 gam, lấy toàn bộ 0,9 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu có ký hiệu “H1 đến H10”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 1899 ngày 11/8/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H1-H10 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,9 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,9 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Ngày 03/8/2023 H mang theo số tiền 300.000₫ đi đến bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 05 viên hồng phiến. Sau khi mua được ma tuý H đi đến nhà nghỉ Khanh Thuỷ tại Tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu thuê phòng số 107 sử dụng hết số ma tuý. Sử dụng ma tuý xong H cất dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm điếu tự chế, mảnh giấy bạc, bật lửa tại đầu giường ngủ rồi đi về nhà tại Tiểu khu 34, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu.

Đến khoảng 19 giờ ngày 08/8/2023 H đi đến bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên Vư (không biết họ tên cụ thể) đang đi bộ trên đường 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 20 viên hồng phiến với giá 1.000.000 đồng, sau khi mua được ma tuý H mang về nhà tại Tiểu khu 34, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu sử dụng hết 07 viên, còn lại 13 viên H cất giấu vào túi quần đang mặc trên người.

Đến khoảng 11 giờ ngày 09/8/2023 H nhắn tin rủ N đi đến nhà nghỉ Khanh Thuỷ để cùng sử dụng ma tuý, N đồng ý đi đến nhà ở Tiểu khu 34, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu. Trước đó vào ngày 09/8/2023 N mua được 03 viên hồng phiến với giá 240.000đ nên khi H rủ N cùng đi sử dụng ma tuý, do sợ công an nên N đã mang theo 03 viên hồng phiến đến nhà H và đưa cho H cầm hộ, H gói chung 03 viên hồng phiến vào gói đựng các viên ma tuý H sau đó cùng N thuê xe ô tô taxi đi đến phòng 107 nhà nghỉ Khanh Thuỷ ở Tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu. H bỏ số ma tuý ra và lấy ống điếu tự chế, bật lửa, mảnh giấy bạc mà H cất giấu từ trước ở đầu giường cùng với N sử dụng ma tuý. H đã sử dụng hết 05 viên, còn N sử dụng hết 01 viên. Khi H và N đang sử dụng ma tuý thì tổ công tác Công an huyện Mộc Châu đến kiểm tra, H cầm vỏ bao thuốc lá bên trong có gói nilon còn 10 viên hồng phiến còn lại chạy ra ném xuống nền nhà của phòng tắm thì bị tổ công tác phát hiện thu giữ.

Ngày 09/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Xác định hiện trường vụ án tại phòng 107 nhà nghỉ Khanh Thuỷ thuộc tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu. Phía Bắc tiếp giáp với đường nội thị dẫn đến trung tâm thị trấn Mộc Châu; Phía Nam tiếp giáp với nhà Tuấn Dân tiếp giáp với đường nội thị dân đi xã Đông Sang; Phía Đông tiếp giáp với nhà Khoa Luận, phía Tây tiếp giáp với nhà Quyền Đông.

Nhà nghỉ có cổng hướng Đông, các phòng nghỉ được xây liền kề từ 101 đến 107, khu vực sân có kích thước 34 x 4,5m. Phòng 107 có kích thước 5,5 x 3mthết kế cửa hướng bắc có kích thước 0,9x2,2m (vị trí số 1),tại góc tường hướng đông nam có kê 01 giường ngủ kích thước 1,6 x 2,2m, đầu giường hướng Nam, trên giường có đệm hoa màu xanh trắng, cách tường hướng đông là 01m, cách tường hướng Nam là 1,3m là vị trí phát hiện 01 bật lửa, 01 mảnh giấy bạc, 01 chai nhựa có gắn ống hút (vị trí 02). Phía sau phòng ngủ là khu vệ sinh có kích thước 1,2 x 3m (vị trí 03). Vị trí phát hiện 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long đựng các viên hồng phiến cách cửa nhà vệ sinh là 1,8m, cách tường hướng đông 60cm, cách bồn vệ sinh là 20cm.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ củaTrần Đức H khai nhận đã mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết giới thiệu tên Vư, ngày 11/8/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác minh xác định tại bản Co Sung, xã Đông Sang không ai tên là Vư như bị can Trần Đức H đã khai. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của Hoàng Thị Hồng N khai nhận do mua của Hoàng Thanh T, sinh năm 1999, nơi cư trú: Bản Búa, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu với giá 240.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã lấy lời khai của Hoàng Thanh T, tuy nhiên T không thừa nhận việc bán ma tuý cho N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc đã tiến hành đối chất giữa Hoàng Thanh T và Hoàng Thị Hồng N: Kết quả đối chất Hoàng Thị Hồng N và Hoàng Thanh T vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Hoàng Thị Hồng N không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định T có liên quan đến hành vi phạm tội Hoàng Thị Hồng N, do đó không đề cập đến biện pháp xử lý.

Bản cáo trạng số: 218/CT-VKSMC ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Thị Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; truy tố bị cáo Hoàng Thị Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Trần Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm h khoản 2 Điều 255,điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 05 năm đến 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 12 năm đến 14 năm tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án số: 15/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 bị cáo đã chấp hành được 06 tháng 20 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù là 02 tháng 07 ngày tù giam, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 02 tháng 10 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù là 23 ngày tù giam. Bị cáo còn phải chấp hành tiếp 23 ngày tù. Buộc bị cáo phải thi hành hình phạt chung của hai bản án.

2. Tuyên bố Hoàng Thị Hồng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hoàng Thị Hồng N từ 21 đến 27 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính tiết định tội:

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai bổ sung tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/8/2023, vật chứng bị thu giữ; kết luận giám định; và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, ngày 09/8/2023 Trần Đức H đem số ma tuý mua được ngày 08/8/2023 thuê phòng nghỉ số 107 nhà nghỉ Khanh Thuỷ, chuẩn bị công cụ gồm tẩu tự chế, giấy bạc, bật lửa rủ Hoàng Thị Hồng N sử dụng trái phép chất ma tuý. Hoàng Thị Hồng N sau khi được Trần Đức H rủ sử dụng trái phép chất ma tuý thì nhất trí và mang theo 03 viên hồng phiến, đưa cho H cầm hộ và biết H cũng có ma túy để sử dụng cho bản thân. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Trần Đức H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N còn có hành vi cùng nhau cất giấu trái phép 0,9 gam Methamphetamine, với mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về tình tiết định khung: Bị cáo Trần Đức H đã có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích và đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Do đó Trần Đức H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm - tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS và điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS.

Bị cáo Hoàng Thị Hồng N tàng trữ cùng bị cáo Trần Đức H 0,9 gam Methamphetamine đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly các bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo Trần Đức H có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy thấy rằng, bị cáo Trần Đức H là người khởi xướng do đó giữ vai trò chính. Bị cáo Hoàng Thị Hồng N là người tiếp nhận ý trí do đó là đồng phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý trong vụ án.

Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện chất ma tuý. Bị cáo Trần Đức H đã có 02 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích và đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, cụ thể: Ngày 19/3/2019 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 28/10/2020 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 28/11/2022 Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, bị cáo đang trong thời gian chấp hành án thì phạm tội, do đó số ngày chưa chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ sẽ được chuyển thành hình phạt tù. Bị cáo chấp hành án cải tạo không giam giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 09/8/2023 thì bị bắt. Như vậy bị cáo đã chấp hành được 06 tháng 20 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn pH chấp hành tiếp 02 tháng 10 ngày cải tạo không giam giữ nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển thành 01 ngày tù do đó bị cáo phải chấp hành 23 ngày tù giam. Do đó cần pH tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hời tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc phong bì thư đựng phong bì niêm phong ban đầu, vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phòng bì đến trong đựng: Chiếc bật lưa ga và mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc tẩu tự chế bằng chai nhựa, có gắn ống hình trụ tròn gấp khúc, tại phần gấp khúc có quần bằng băng dính màu đen và nilon màu xanh; 03 phong bì bên trong đựng Test thử ma túy là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 thu giữ của bị cáo Trần Đức H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Hồng N, là tài sản của các bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo Trần Đức H vào ngày 03/8/2023 và người đàn ông dân tộc tên Vư như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với Hoàng Thanh Tùng, sinh năm 1999, nơi cư trú: Bản Búa, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu là đối tượng Hoàng Thị Hồng N khai đã bán ma túy cho N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã lấy lời khai của Hoàng Thanh Tùng, tuy nhiên Tùng không thừa nhận việc bán ma tuý cho N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc đã tiến hành đối chất giữa Hoàng Thanh Tùng và Hoàng Thị Hồng N nhưng Hoàng Thanh Tùng không thừa nhận, ngoài lời khai của Hoàng Thị Hồng N không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định Tùng có liên quan đến hành vi phạm tội Hoàng Thị Hồng N, nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, nên buộc các bị cáo pH hoàn toàn chịu trách nhiệm về số ma tuý trên.

Đối với Nguyễn Thị Thuỷ, sinh năm 1979, nơi cư trú: Bản Tự Nhiên, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (là chủ nhà nghỉ Khanh Thuỷ) đã cho H thuê phòng 107, Nguyễn Thị Thủy không biết việc H, N sử dụng trái phép chất ma tuý, nên không đề cập đến việc xử lý.

[8] Các Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

[9] Xét thấy thời hạn tạm giam của các bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Trần Đức H 05 (năm) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Trần Đức H 07 (bảy) năm tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội. Buộc Trần Đức H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 12 (Mười hai) năm tù.

Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án số 15/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo Trần Đức H phải thi hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (Mười hai) năm, 23 (Hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/8/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Hồng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Hồng N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/8/2023.

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: Đối với 01 chiếc phong bì thư đựng phong bì niêm phong ban đầu, vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phòng bì đến trong đựng: Chiếc bật lưa ga và mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc tẩu tự chế bằng chai nhựa, có gắn ống hình trụ tròn gấp khúc, tại phần gấp khúc có quần bằng băng dính màu đen và nilon màu xanh; 03 phong bì bên trong đựng Test thử ma túy là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/11/2023 giữa Công an huyện Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trần Đức H và Hoàng Thị Hồng N phải chịu mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 11/01/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - THAHS;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mộc Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đèo Văn Quỳnh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do nghiện chất ma túy nên bị cáo Trần Đức H và Hoàng Thị Hông N cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger