Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/DS-PT

Ngày 10-7-2024

V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung
Bà Lê Thị Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Nguyễn Thị Thu Mong - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLPT- DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 66/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng V1.
  • Người đại diện theo ủy quyền:
  • Ông Lê Viên H - Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà V, số G D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • - Bị đơn:
  • + Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số A đường N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
  • + Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ A phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; nơi ở hiện nay: Khu H xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Do có nhu cầu vay vốn, ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1 đã ký 03 hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V2), cụ thể như sau:

  • - Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 ngày 18/06/2018: Số tiền vay: 630.000.000 đồng; thời hạn vay 83 tháng tính từ ngày 19/06/2018 đến ngày 18/05/2025; mục đích vay: mua xe ô tô TOYOTA INNOVA.
  • Tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay: 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA INNOVA, số khung RL4JW8EMXJ3239375, số máy ITRA470548; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 15A-395.27 thuộc quyền sở hữu của ông ông Nguyễn Văn T.
  • - Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731506 ngày 18/06/2018: Số tiền vay: 615.000.000 đồng; thời hạn vay: 72 tháng tính từ ngày 19/06/2018 đến ngày 18/06/2024; mục đích vay: mua xe ô tô FORD TRANSIT .
  • Tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay: 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD TRANSIT, số khung RL3DLT4MFJTR69553, số máy J3P13504DURATORQ4D244L; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 15B-036.87 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T.
  • - Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/06/2018: Số tiền vay: 847.000.000 đồng; thời hạn vay: 83 tháng tính từ ngày 19/06/2018 đến ngày 18/05/2025; mục đích vay: mua xe ô tô CAMRY.
  • Tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay: 01 xe ô tô, nhãn hiệu CAMRY, số khung RL4BN3FK4J1007132, số máy 6ARP411238; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 15A-396.85 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T.

Cả ba hợp đồng trên đều quy định: Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 9,8%/năm (Lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày), cố định trong vòng 3 tháng. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 18/09/2018, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/10/2018. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tiết kiệm VNĐ cộng (+) biên độ 5,9%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngoài ba hợp đồng trên, ngày 12/7/2019, bà Đặng Thị H1 có ký hợp đồng cho vay số LD 1919300843 để vay tín chấp số tiền 74.000.000; thời hạn vay: 36 tháng tính từ ngày 12/7/2009; mục đích: Vay tiêu dùng cá nhân. Lãi suất 19,0%/năm; biên độ 11%/năm, điều chỉnh 3 tháng/ lần vào các ngày 01/01; 01/4; 01/7 hàng năm.

Sau khi ký các hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà H1 tổng số tiền 2.092.000.000 đồng. Quá trình thực hiện các Hợp đồng trên, ông T, bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số 1.044.699.658 đồng trong đó nợ gốc 603.148.066 đồng, nợ lãi 441.551.592 đồng. Từ ngày 18/4/2020, ông T, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển sang lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông T, bà H1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 là 2.595.237.496 đồng; trong đó nợ gốc là 1.548.117.957 đồng, nợ lãi là 1.047.119.539 đồng và toàn bộ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ sau thời điểm xét xử cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ của Ngân hàng.
  • - Trường hợp ông T, bà H1 không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên, đề nghị Tòa án tuyên buộc phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1, cụ thể như sau:
    • + 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD TRANSIT; biển kiểm soát: 15B-036.87 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066224 do phòng CSGT công an Thành phố H cấp ngày 15/06/2018 mang tên: NGUYỄN VĂN TUẤN, theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1806140731506 ngày 18/06/2018.
    • + 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY; biển kiểm soát: 154-396.85, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066221 do phòng CSGT công an Thành phố H cấp ngày 15/06/2018 mang tên: NGUYỄN VĂN TUẤN, theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1806140731525 ngày 18/06/2018.
    • + 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA E; biển kiểm soát: 15A-395.27, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066222 do phòng CSGT công an Thành phố H cấp ngày 15/06/2018 mang tên: NGUYỄN VĂN TUẤN, theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1806140731521 ngày 18/06/2018.
  • Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ để trả nợ toàn bộ khoản vay, ông T, bà H1 có nghĩa vụ phải tiếp tục trả nợ cho V1 đến khi thực tế thanh toán hết khoản nợ.

* Bị đơn trình bày ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông TH1 là vợ chồng, do có nhu cầu vay vốn để mua xe ô tô sử dụng và kinh doanh nên có ký kết các

hợp đồng tín dụng như trình bày của ngân hàng, do dịch bệnh covid 19 ảnh hưởng đến công việc làm ăn nên ông bà chưa trả được nợ cho ngân hàng. Những tài sản thế chấp đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông T, bà H1, vợ chồng ông bà vẫn đang quản lý, sử dụng. Ông T, bà H1 trình bày sẽ trả cho ngân hàng toàn bộ tiền nợ gốc, đề nghị ngân hàng miễn lãi. Tuy nhiên sau đó ông T, bà H1 không thanh toán nợ cho ngân hàng như đã cam kết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 116, 117, 119, 298, 299, 317, 319, 320, 323, 463, 465, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 90, 91, 94, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

- Căn cứ các điều 7, 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

1. Buộc anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 của Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731506 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 ngày 18/6/2018 là 2.479.294.001 đồng (hai tỷ, bốn trăm bảy mươi chín triệu, hai trăm chín mươi tư nghìn, không trăm linh một đồng), trong đó nợ gốc 1.488.851.934đồng (một tỷ, bốn trăm tám mnươi tám triệu, tám trăn năm mươi mốt nghìn, chín trăm ba mươi tư đồng), nợ lãi 990.442.067đồng (chín trăm chín mươi triệu, bốn trăm bốn mươi hai nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).

Trường hợp anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H1 trả không đầy đủ hoặc không trả được số tiền trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:

  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, Số khung RL3DLT4MFJTR69553, số máy J3P13504DURATORQ4D244L, biển kiểm soát 15B-036.87 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066224 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 16/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN186140731506 ngày 18/6/2018.
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, Số khung RL4BN3FK4J1007132, số máy 6ARP411238, biển kiểm soát 15A-396.85 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066221 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 16/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova 2.0E, Số khung 8ẸM3239375, số máy 1TR470548, biển kiểm soát 15A-395.27 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066222 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 15/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 ngày 18/6/2018.

2. Buộc chị Đặng Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 đối với Hợp đồng tín chấp số CFT/VN10324/201907/1259 ngày 11/7/2019 tổng số 115.943.494 (Một trăm mười lăm triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm chín mươi tư) đồng, trong đó nợ gốc là 59.226.023 (Năm mươi chín triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi ba) đồng, nợ lãi là 56.677.471 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi bảy nghìn, bốn trăm bảy mươi mốt) đồng.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền phạt chậm trả lãi theo các Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731506 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 giữa Ngân hàng TMCP V với anh Nguyễn Văn T, chị Đặng Thị H1 và Hợp đồng tín chấp số CFT/VN10324/201907/1259 ngày 11/7/2019 giữa Ngân hàng TMCP V với chị Đặng Thị H1.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/11/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Đặng Thị H1 kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu trả nợ gốc và một phần yêu cầu nợ lãi của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày về số tiền gốc và tiền lãi trong hạn như ngân hàng tính toán là đúng nhưng riêng số tiền lãi quá hạn ngân hàng tính lãi chưa đúng với hợp đồng đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét để đảm bảo quyền lợi của bị đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu trả nợ gốc của Ngân hàng, tiền nợ lãi trong hạn và một phần lãi quá hạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định được quan hệ tranh chấp là hợp đồng tín dụng. Bị đơn cư trú tại quận N nên Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1 quá hạn nhưng đã được Toà án chấp nhận nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Về việc vắng mặt của người kháng cáo bị đơn ông Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

Xét kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị H1:

[4] Ba hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521, LN1806140731506 và LN1806140731525 ngày 18/06/2018 đều được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là ngân hàng với bên vay là ông T, bà H1. Ngoài ba hợp đồng trên bà H1 có ký hợp đồng cho vay số LD 1919300843, ngày 12/7/2019. Thời điểm ký hợp đồng vay, bà H1 và ông T là vợ chồng, bà H1 vay khoản vay trên danh nghĩa là cá nhân nhưng mục đích vay tiêu dùng trong gia đình. Tại các bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 14/4/2023, ông T cũng xác nhận biết việc bà H1 vay ngân hàng và xác định là khoản nợ chung của vợ chồng nên có trách nhiệm cùng với bà H1 trả nợ cho ngân hàng.

[5] Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích đúng theo nhu cầu của mỗi bên,

không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Hình thức của các hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân, ông T, bà H1 đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng. Việc ông T, bà H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc ông T, bà H1 phải liên đới thanh toán cho ngân hàng các khoản nợ gốc, lãi trong hạn theo thỏa thuận đã ký kết là có căn cứ.

Đối với khoản tiền lãi quá hạn, Toà án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào yêu cầu khởi kiện cũng như trình bày của nguyên đơn để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền lãi tạm tính đến ngày 29/9/2023 là 1.047.119.538 đồng là không có căn cứ. Bởi lẽ:

Tại thời điểm các bên xác lập hợp đồng tín dụng, theo thỏa thuận tại Điều 7, 8 Bản Điều khoản chung của V1 quy định:

Điều 7. Chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và xử lý nợ:

1. Các bên thống nhất thỏa thuận... V1 có quyền chấm dứt cho vay, dừng giải ngân và thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của bên vay trước hạn trong những trường hợp sau đây: ... g. Bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào đối với V1 theo hợp đồng... và thỏa thuận khác giữa các bên...

Điều 8. Nợ quá hạn và chậm thanh toán tiền lãi: ...

2. Khoản nợ gốc quá hạn sẽ phải chịu lãi suất quá hạn kể từ thời điểm quá hạn... cụ thể như sau:

a. Trường hợp bên vay chậm thanh toán nợ gốc theo các phân kỳ trả nợ đã thỏa thuận... và V1 không quyết định thu hồi toàn bộ dư nợ còn lại của bên vay trước hạn, thì phần dư nợ gốc thực tế bị quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn; phần dư nợ gốc chưa đến kỳ trả nợ vẫn chịu mức lãi suất cho vay trong hạn...

c. Trường hợp V1 yêu cầu bên vay phải thanh toán toàn bộ dư nợ còn lại trước hạn nếu bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của V1, thì toàn bộ dư nợ gốc còn lại của bên vay theo Hợp đồng... phải chịu lãi suất quá hạn.”

[6] Đối với các khoản vay của vợ chồng ông T, bà H1 sau khi ông Tuấn bà H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng V1 đã ra thông báo số 4137 ngày 18/8/2020 thu hồi toàn bộ dư nợ gốc. Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa bà H1 khai chưa nhận được văn bản thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ gốc của Ngân hàng. Tại thời điểm khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được cho Tòa án tài liệu văn bản chứng cứ thể hiện đã giao thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ gốc cho ông T, bà H1 nhưng ngân hàng đã tính lãi quá hạn đối

với toàn bộ dư nợ gốc đối với các khoản vay của ông TH1 là không đúng với thoả thuận theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8, Điều 14 Bản Điều kiện giao dịch chung. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lãi chỉ có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Bản Điều khoản chung của V1, cụ thể: Bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và một phần lãi quá hạn. Tại giai đoạn phúc thẩm Ngân hàng V1 đã cung cấp cho Toà án bảng tính lãi chi tiết đối với các khoản vay của vợ chồng ông T, bà H1 tạm tính đến ngày 29/9/2023 theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8, Bản Điều kiện giao dịch chung. Tổng cộng tiền lãi đối với các khoản vay của vợ chồng ông TH1 là 833.674.182 đồng (có bảng tính chi tiết kèm theo).

[7] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trong vụ án. Cụ thể, việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã buộc bị đơn phải chịu thêm số tiền lãi vượt quá là 213.445.356 đồng. Do đó, có căn cứ sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn, buộc bị đơn phải trả cho ngân hàng TMCP V tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 tổng cộng là 2.381.792.139đồng; trong đó: nợ gốc là 1.548.117.957 đồng, nợ lãi là 833.674.182 đồng.

[8] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn bà H1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Ông T phải chịu án phí đối với yêu cầu kháng cáo bị đình chỉ. Bị đơn ông T, bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309, khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị H1, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Căn cứ các điều 116, 117, 119, 298, 299, 317, 319, 320, 323, 463, 465, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 90, 91, 94, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Căn cứ các điều 7, 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1 phải liên đới trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 của Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731506 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín chấp số CFT/VN10324/201907/1259 ngày 11/7/2019. Tổng cộng là 2.381.792.139đồng (hai tỷ ba trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn một trăm ba mươi chín đồng); trong đó: nợ gốc là 1.548.117.957 đồng (một tỉ năm trăm bốn mươi tám triệu một trăm mười bảy nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng), nợ lãi là 833.674.182 đồng (tám trăm ba mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn một trăm tám mươi hai đồng).

Trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1 trả không đầy đủ hoặc không trả được số tiền trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ của 03 hợp đồng tín dụng có thế chấp với tổng số tiền là 2.265.808.645 gồm các tài sản sau:

  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, Số khung RL3DLT4MFJTR69553, số máy J3P13504DURATORQ4D244L, biển kiểm soát 15B-036.87 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066224 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 16/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN186140731506 ngày 18/6/2018.
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, Số khung RL4BN3FK4J1007132, số máy 6ARP411238, biển kiểm soát 15A-396.85 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066221 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 16/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova 2.0E, Số khung 8ẸM3239375, số máy 1TR470548, biển kiểm soát 15A-395.27 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066222 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 15/6/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 ngày 18/6/2018.
  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền phạt chậm trả lãi theo các Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731506 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731525 ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp số LN1806140731521 giữa Ngân hàng TMCP V với ông Nguyễn Văn T, bà Đặng Thị H1 và Hợp đồng tín chấp số CFT/VN10324/201907/1259 ngày 11/7/2019 giữa Ngân hàng TMCP V với bà Đặng Thị H1.
  2. Về án phí:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V phải chịu 10.672.267 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng đã nộp số tiền 37.687.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006775 ngày 29/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên trả lại Ngân hàng TMCP V 27.014.733 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị H1 mỗi người phải nộp 39.817.921 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đặng Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trả lại ông T, bà H1 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 3.700.000 đồng (theo Biên lai số 0003041 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 52/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án ST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger