|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 52/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 10 - 6 - 2024
“T/c về hôn nhân và gia đình
– Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Vững.
- Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 534/2023/TLST–HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2023. Về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/QĐST – HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Đặng Mỹ D, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Châu Văn C, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
Tại phiên tòa chị D có mặt, anh C vắng mặt lần thứ hai không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Chị Đặng Mỹ D trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C quen biết và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M.
- Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh C.
- - Về quan hệ nuôi con: Không có.
- - Về quan hệ tài sản: Không có.
- - Về quan hệ nợ: Không có.
2. Anh Châu Văn C vắng mặt tại phiên xét xử lần hai không lý do và không có văn bản ghi ý kiến.
Các tài liệu trong hồ sơ đã được công khai theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 02 tháng 5 năm 2024.
- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
- + Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Anh C chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- - Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 34, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D (có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị D và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh C là bị đơn có nơi thường trú Ấp C, xã M, huyện T, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh C1 vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D, anh C đăng ký kết hôn tại UBND xã M vào năm 2011 là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa, chị D khẳng định chị không còn tình cảm với anh C, chị nhiều lần nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C. Nhưng thương chồng chị cho anh C nhiều cơ hội sữa sai.
Thế nhưng anh C vẫn không thay đổi, không quan tâm chăm sóc cho chị. Do đó, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc tình cảm vợ chồng.
Căn cứ biên bản ghi lời khai của bà Lê Thị L (mẹ anh C) trình bày bà L có giao lại các Thông báo mà Tòa án tống đạt cho anh C. Nhưng anh C không ý kiến gì về vấn đề hôn nhân với chị D.
Tại phiên tòa, chị D trình bày vợ chồng vẫn sống chung nhà, nhưng về tình cảm vợ chồng đã ly thân với nhau hơn 05 tháng nay. Do đó, hôn nhân chị D, anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.
[4.2] Về quan hệ nuôi con: Không có.
[4.3] Về quan hệ tài sản: Không có.
[4.4] Về quan hệ nợ: Không có.
[5] Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Mỹ D. Cho chị Đặng Mỹ D và anh Châu Văn C ly hôn.
- Về quan hệ nuôi con: Không có.
- Về quan hệ tài sản: Không có.
- Về quan hệ nợ: Không có.
- Về án phí sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0002748, ngày 11/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười (chị D đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Chị D được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Duy Khánh |
Bản án số 52/2024/HNGĐ - ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
