|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-PT Ngày: 10-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;
Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Trang Thị Kim P; do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án bà Nguyễn Thị Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo bị kháng cáo: Trang Thị Kim P, sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Trang Văn T1 (đã chết) và bà Trang Thị S; chồng Nguyễn Thành N sinh năm 1983; có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 19-9-2018 (nhằm ngày 10-8-2018 âm lịch) đến ngày 05-7-2020 (nhằm ngày 15-5-2020 AL) bị cáo Trang Thị Kim P đã có hành vi cho bà Nguyễn Thị Thanh T vay tiền với mức lãi suất cao, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 19-9-2018 (nhằm ngày 10-8-2018 âm lịch) bà T đến nhà bị cáo P hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay tính theo ngày, thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 180%/năm). Lúc này, bị cáo P kêu ông Nguyễn Thành N là chồng P viết hợp đồng vay tiền nhưng không ghi mức lãi suất đã thỏa thuận và đưa cho bà T ký tên, nhận của bị cáo P số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi vay bà T không đóng lãi theo thỏa thuận nên đến ngày 20 tháng 11 năm 2020, P và bà T chốt lại giấy nợ số tiền vay là 100.000.000 đồng và 03 tháng (tháng 9, 10, 11/2020) tiền lãi là 45.000.000 đồng. Do đó tiền lãi thu lợi bất chính của lần vay này là 20.342.465 đồng.
Lần thứ hai: Vào ngày 01-9-2019 (nhằm ngày 03-8-2019 âm lịch) bà T đến nhà bị cáo P hỏi vay số tiền 50.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 180%/năm). Bị cáo P viết hợp đồng vay tiền đưa cho bà T ký tên và nhận số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi vay bà T không đóng lãi theo thỏa thuận nên đến ngày 20 tháng 11 năm 2020, bị cáo P và bà T chốt lại giấy nợ số tiền vay là 50.000.000 đồng và 03 tháng (tháng 9, 10, 11/2020) tiền lãi là 22.500.000 đồng. Do đó tiền lãi thu lợi bất chính của lần vay này là 10.171.232 đồng.
Lần thứ ba: Vào ngày 05-7-2020 (nhằm ngày 15-5-2020 âm lịch) bà T đến nhà bị cáo P hỏi vay thêm số tiền 200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 144%/năm). Bị cáo P trực tiếp viết hợp đồng vay tiền đưa cho bà T ký tên và nhận của P số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi vay bà T không đóng lãi theo thỏa thuận nên đến ngày 20 tháng 11 năm 2020, bị cáo P và bà T chốt lại giấy nợ số tiền vay là 200.000.000 đồng và 03 tháng (tháng 9, 10, 11/2020) tiền lãi là 72.000.000 đồng. Do đó tiền lãi thu lợi bất chính của lần vay này là 22.684.931 đồng.
Sau khi đã chốt lại 03 khoản nợ nêu trên, bà T đã trả tiền lãi cho bị cáo P được 6.000.000 đồng/156.000.000 đồng, số tiền lãi còn lại 150.000.000 đồng được cộng vào khoản tiền vay gốc là 350.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 500.000.000 đồng, ghi thành giấy nợ mới ngày 20-10-2020 và tiếp tục thỏa thuận lãi suất tiếp theo của khoản tiền 500.000.0000 đồng là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 72%/năm), bà T đóng lãi khoản tiền này cho bị cáo P được số tiền 25.000.000 đồng, đến ngày 02-11-2022, bà T có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thì phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo Trang Thị Kim P. Ngoài các lần vay tiền trên, bà T còn vay các khoản tiền khác của bị cáo P nhiều lần với mức lãi suất 2%/tháng.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trang Thị Kim P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 139/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã xử:
Tuyên bố bị cáo Trang Thị Kim P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điểm i, n, s khoản 1 Điều 51và Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trang Thị Kim P 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB có chứa nội dung cuộc nói chuyện giữa bị cáo Trang Thị Kim P và bà Nguyễn Thị Thanh T;
- Trả lại cho bị cáo Trang Thị Kim P và ông Nguyễn Thành N 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 866064, số vào sổ cấp GCN: CS10913, tại thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Buộc bị cáo Trang Thị Kim P nộp lại số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T có nghĩa vụ nộp lại số tiền vay gốc 350.000.000 (ba trăm, năm mươi triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 365 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, có địa chỉ tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh không có chứng cứ liên quan đến việc phạm tội khác và các giao dịch vay tiền khác không cấu thành tội cho vay lãi nặng nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự, khi có yêu cầu của bàThúy, bị cáo P và ông N.
Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11-12-2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T kháng cáo: Xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo P và yêu cầu xem xét lại khoản tiền lãi đã đóng và xem xét về số tiền 350.000.000 đồng mà buộc bà phải nộp để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T. Căn cứ Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, bà T không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 29-11-2023 bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn kháng cáo, qua xem xét trình tự, thủ tục phù hợp quy định tại Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Hành vi của bị cáo P thể hiện: Bị cáo P và bà T có mối quan hệ quen biết, vay tiền, thời gian từ ngày 10-8-2018 đến ngày 15-5-2020 bị cáo P cho bà T vay 03 khoản tiền với lãi suất cao vượt quá quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, cụ thể: 100.000.000 đồng ngày 10-8-2018 với lãi suất 15%/tháng tương đương 180%/năm, vượt quá quy định 80% tương đương 4 lần; 50.000.000 đồng với lãi suất 15%/tháng tương đương 180%/năm, vượt quá quy định 80% tương đương 4 lần; 200.000.000 đồng với lãi suất 12%/tháng tương đương 144%/năm, vượt quá quy định 44% tương đương 2,2 lần. Thu lợi bất chính của 03 khoản tiền trên là 53.198.628 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo P về tội : “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét thẩm quyền và phạm vi kháng cáo của bà T: Căn cứ khoản 1 Điều 65; khoản 4 Điều 331của Bộ luật Tố tụng hình sự bà T không có quyền kháng cáo về hình phạt đối với bị cáo P.
[3.1] Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét lại số tiền lãi đã trả cho bị cáo P trong 03 khoản tiền trên, cụ thể bà T cho rằng:
+ Đối với khoản tiền 100.000.000 đồng ngày 10-8-2018 bà trả lãi 24 tháng là 360.000.000 đồng.
+ Đối với khoản tiền 50.000.000 đồng bà trả lãi 13 tháng là 97.500.000 đồng.
+ Đối với khoản tiền 200.000.000 đồng bà trả lãi 03 tháng là 72.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền lãi bà T đã trả cho bị cáo P là 529.500.000 đồng
Bị cáo P cho rằng 03 khoản tiền trên bị cáo chỉ tính lãi có 03 tháng 9, 10, 11 năm 2020 thời gian trước cho mượn, không tính lãi suất; bà T cho rằng có tính lãi suất đến tháng 12 năm 2020 bà thiếu 03 tháng nên bị cáo P mới tính lãi thiếu 3 tháng nhưng bà T không chứng minh được số tiền trả trước đó là bao nhiêu. Căn cứ chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện sau khi cấn trừ số tiền lãi còn phải trả là 150.000.000 đồng + 350.000.000 đồng tiền gốc viết thành giấy vay, tổng cộng 500.000.000 đồng. Do đó, số tiền 350.000.000 đồng (tiền gốc) là phương tiện phạm tội nên cấp sơ thẩm buộc bà T nộp để tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp. Đối với số tiền lãi 150.000.000 đồng bị cáo P chưa nhận nên không có căn cứ buộc bị cáo nộp. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo P nộp số tiền 6.000.000 đồng đã nhận để sung quỹ Nhà nước là có căn cứ.
[3.2] Xét số tiền lãi được thể hiện trong file ghi âm của bà T cung cấp cho Toà án. Qua xem xét thấy rằng:
- Đối với khoản tiền 100.000.000 đồng – lãi 360.000.000 đồng; 50.000.000 đồng– lãi 97.500.000 đồng thì bị cáo P không thừa nhận, bà T cung cấp file ghi âm không thể hiện ngày tháng năm ghi âm thiết bị ghi âm, lịch sử cuộc gọi ghi âm hay ghi âm trực tiếp, xem xét nội dung ghi âm không có một đoạn nào thể hiện khoản vay 100.000.000 đồng đã tính lãi suất 360.000.000 đồng; 50.000.000 đồng– lãi suất là 97.500.000 đồng như bà T trình bày.
- Đối với khoản tiền 200.000.000 đồng, bị cáo P và bà T trình bày thống nhất lãi là 72.000.000 đồng. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T về xem xét lãi lại.
[4] Ngoài ra, các khoản tiền vay khác cấp sơ thẩm không xem xét xử lý hình sự là do không đủ căn cứ. Bà T – bị cáo P được quyền khởi kiện dân sự khi có yêu cầu.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T không được chấp nhận nên bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 23, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên bố bị cáo Trang Thị Kim P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trang Thị Kim P 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB có chứa nội dung cuộc nói chuyện giữa bị cáo Trang Thị Kim P và chị Nguyễn Thị Thanh T;
- Trả lại cho bị cáo Trang Thị Kim P và ông Nguyễn Thành N 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 866064, số vào sổ cấp GCN: CS10913, tại thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-10-2023).
Buộc bị cáo Trang Thị Kim P nộp lại số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T có nghĩa vụ nộp lại số tiền vay gốc 350.000.000 (ba trăm, năm mươi triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 365 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, có địa chỉ tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh không có chứng cứ liên quan đến việc phạm tội khác và các giao dịch vay tiền khác không cấu thành tội cho vay lãi nặng nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự, khi có yêu cầu của bà T, bị cáo P và ông N.
3/. Án phí phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)
4/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Hồng Vân Nguyễn Văn Bình |
Phạm Thị Thanh Giang |
Bản án số 52/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trang Thị Kim Phương
