TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Văn Tiến;
- - Ông Nguyễn Hưu Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T - Kế toán Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an huyện T, thành phố Hải Phòng) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Tiến L, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1977; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2019/HS-ST ngày 25-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xử phạt Nguyễn Tiến L 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong các quyết định của bản án ngày 03-01-2022 nên đã được xóa án tích). Bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 4 năm 2024 đến ngày 18 tháng 4 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Lương Văn N, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Đ, thôn Q, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1961; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 4 năm 2024 đến ngày 18 tháng 4 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Tiến D; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 11-4-2024, Lương Văn N đến phòng trọ của Nguyễn Tiến L tại thôn P, xã C, huyện T. Ngồi chơi đến khoảng 01 giờ ngày 12-4-2024 thì L rủ N sử dụng ma túy, N đồng ý, cả hai thống nhất mỗi người góp 200.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 16N3-8355 chở N đến khu vực nhà máy N1 xã K, huyện T, gặp người đàn ông không quen biết, L hỏi mua 400.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine thì được người này bán cho 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh bên trong chứa ma túy. N nhận ma túy cầm tại lòng bàn tay phải rồi cả hai đi về. Đến phòng trọ, L lấy 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh, 02 bật lửa ga và 01 kéo cắt giấy có sẵn tại phòng trọ lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đưa cho N. N cắt ống hút nhựa chứa ma túy và đổ vào ống thủy tinh, sau đó dùng bật lửa đốt nóng ống thủy tinh chứa ma túy và sử dụng trước; N sử dụng xong thì bật lửa đốt nóng ống thủy tinh để L sử dụng, N và L lần lượt mỗi người sử dụng được 04 lần thì hết ma túy. Đến khoảng 05 giờ ngày 12-4-2024, Công an huyện T tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 chai nhựa màu trắng cao 12cm, đường kính đáy 04cm, đường kính miệng 2,7cm bên trong có chất lỏng màu trắng đục (mẫu số 01), nắp chai màu trắng có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng dài 22,5cm, một lỗ gắn ống thuỷ tinh dài 14cm, đầu ống thuỷ tinh có tẩu hình cầu đường kính 02cm, đáy bám dính tạp chất màu nâu đen (mẫu số 02); 01 kéo kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kích thước (3,6 x 0,7)cm bên trong bám dính tinh thể trắng (mẫu số 03); 02 bật lửa ga màu đỏ và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, BKS 16N3-8355.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến L và Lương Văn N nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 453/KL-KTHS ngày 16-4-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “Chất lỏng của mẫu số 01 gửi giám định có thể tích 05ml, tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng chất ma tuý trên. Chất màu nâu đen bám, dính trong tầu thuỷ tinh của mẫu số 02 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên. Tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống hút nhựa của mẫu số 03 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên”.
Kết quả xét nghiệm của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Nguyễn Tiến L, Lương Văn N đều dương tính với ma tuý, loại Methamphetamine. Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C, L và N không thuộc đối tượng đang cai nghiện do xã quản lý.
Tại phiếu trả lời xác minh xe của Công an huyện T và Kết luận giám định số 1267/KL-KTHS ngày 25-4-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, mang BKS 16N3-8355 chủ xe Nguyễn Văn P1, địa chỉ số E T, quận L, thành phố Hải Phòng, có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự”.
Ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông là chủ nhà trọ cho thuê, đầu tháng 3/2024, Nguyễn Tiến L đến gặp ông thuê phòng trọ thứ 5 để ở. Ông không biết việc L và N sử dụng ma tuý tại phòng trọ.
Vợ chồng ông Nguyễn Tiến D, bà Lương Thị P2 và ông Nguyễn Văn P1 thống nhất trình bày: Xe mô tô BKS 16N3-8355 là tài sản hợp pháp của ông D, bà P2 mua vào năm 2015 của ông P1 với giá 6.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ mua bán và chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. L thường xuyên mượn xe mô tô trên để đi chơi, làm thuê; ông D, bà P2 đều không biết việc L sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô BKS 16N3-8355 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tiến D, bà Lương Thị P2 nên ngày 03-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho ông D, bà P2. 01 hộp giấy niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (gồm 01 chai nhựa của mẫu số 01, 01 nắp nhựa, 01 tầu thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng của mẫu số 02 và 01 đoạn ống hút nhựa của mẫu số 03); 01 kéo kim loại và 02 bật lửa ga màu đỏ, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 10-7-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến L và Lương Văn N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, L và N khai nhận hành vi phạm tội như trên và thống nhất trình bày: L, N đều sử dụng ma tuý tổng hợp từ năm 2020; ngày 12-4-2024 là lần đầu tiên các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng nhau; ngoài L và N không còn ai khác tham gia. Quá trình L và N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ thì chủ nhà trọ không biết. Xe mô tô BKS 16N3-8355, L mượn của ông D, bà P2 để đi làm; bố mẹ L không biết việc sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi đã thực hiện; loại ma túy đúng như Kết luận giám định của Phòng K1 Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 đối với N) Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến L và Lương Văn N đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xử phạt:
Nguyễn Tiến L mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12-4-2024.
Lương Văn N mức án từ 27 tháng tù đến 33 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12-4-2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong số 453MT/C09 của Phòng K1 Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 kéo kim loại và 02 bật lửa ga màu đỏ.
- - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- - Về tố tụng:
- [1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- [2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Về những người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, người làm chứng vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
- - Về tội danh và hình phạt:
- [4] Lời khai của Nguyễn Tiến L và Lương Văn N tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 12-4-2024, L khởi xướng, bàn bạc với N mỗi người góp 200.000 đồng cùng nhau đi mua ma tuý (Methamphetamine) về sử dụng tại phòng trọ của L, thôn P, xã C, huyện T. Khi sử dụng ma tuý, L chuẩn bị dụng cụ, N cắt ống hút nhựa chứa ma tuý đồ vào ống thuỷ tinh rồi sử dụng trước, sau đó dùng bật lửa đốt nóng ống thuỷ tinh chứa ma tuý để L sử dụng; N và L cùng nhau sử dụng 04 lần thì hết số ma tuý đã mua.
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý được quy định khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- [5] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
- [6] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
- [7] Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự nhưng là đồng phạm giản đơn; không có sự câu kết chặt chẽ, phân công, phân nhiệm cụ thể. L là người khởi xướng, góp 200.000 đồng; sử dụng phòng trọ và điều khiển xe mô tô thuộc quyền quản lý của mình chở N đi mua ma tuý và chuẩn bị dụng cụ (01 ống thuỷ tinh, 01 chai nhựa, ống hút nhựa, 02 bật lửa ga và một kéo cắt giấy) để sử dụng ma tuý. N góp 200.000 đồng, cùng L đi mua ma tuý về đồ vào ống thuỷ tinh rồi sử dụng trước; sau đó dùng bật lửa hơ ống thuỷ tinh chứa ma tuý để L sử dụng. Như vậy, L có vai trò cao hơn N.
- [8] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo N không có tiền án, tiền sự; bị cáo L có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản sản, mặc dù đã được xoá án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật.
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N tham gia nghĩa vụ quân sự công tác trên quần đảo trường xa, có bác ruột là liệt sĩ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [9] Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt L ở mức cao nhất và xử phạt N ở mức giữa theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với các bị cáo là thỏa đáng.
- [10] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện các bị cáo đều nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- [11] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 16N3-8355: Cơ quan điều tra Công an huyện T, thành phố Hải Phòng đã trả lại cho chủ sở hữu, ông Nguyễn Tiến D và bà Lương Thị P2 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 hộp giấy niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 01 chai nhựa của mẫu số 01, 01 nắp nhựa, 01 tầu thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng của mẫu số 02 và 01 đoạn ống hút nhựa của mẫu số 03); 01 kéo kim loại và 02 bật lửa ga màu đỏ: Là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [12] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho L và N nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- [13] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- [14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến L và Lương Văn N đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 đối với N) Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Tiến L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 4 năm 2024.
Lương Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 4 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Nguyễn Tiến L, Lương Văn N.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) hộp giấy niêm phong số 453MT/C09 của Phòng K1 Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 01 chai nhựa của mẫu số 01; 01 nắp nhựa, 01 tầu thuỷ tinh, 02 ống hút nhựa màu trắng của mẫu số 02 và 01 đoạn ống hút nhựa của mẫu số 03); 01 (Một) kéo kim loại và 01 (Hai) bật lửa ga màu đỏ.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Nguyễn Tiến L và Lương Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nguyễn Tiến L và Lương Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
