|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-PT |
|
|
Ngày: 09/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
Ông Đào Liệt Trinh
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị H và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
– Bị cáo có kháng cáo:
- Bị cáo Trần Thị H sinh ngày 30/6/1993; nơi sinh: Huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Lê Thị N; chồng Nguyễn Văn B sinh năm 1987; có 03 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Nguyễn Văn T sinh ngày 01/01/1964; nơi sinh: Huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 (chết) và bà Lâm Thị M (chết); vợ Nguyễn Thị T1 (chết); có 04 con lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Trần Phú V sinh ngày 13/12/1980; nơi sinh: Huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị M1; vợ Nguyễn Thị Bích Thủy sinh năm 1980; có 03 con lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/12/2022 bị Công an xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Nộp phạt ngày 12/12/2022.
- Bị cáo Nguyễn Công V1 sinh ngày 10/9/1991; nơi sinh: Huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú và bà Phạm Thị Ngọc G; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/12/2022 bị Công an xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Nộp phạt ngày 12/12/2022.
- Bị cáo Nguyễn Thị T2 sinh ngày 20/10/1983; nơi sinh: Huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B2 và bà Lý Thị M2; chồng Võ Văn B3 sinh năm 1978; có 02 con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị H và bị cáo Nguyễn Văn T: Luật sư Lê Minh Đ1 – Công ty L1 thuộc đoàn Luật sư thành phố C. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/10/2023 Nguyễn Công V1, Nguyễn Văn Ú, Trương Long Đ2, Trần Phú V, Đỗ Thị D1, Đặng Thanh H1 đến quán nước của Mai Như T3 tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ uống nước thì Ú, Đ2, V1 đi ra phía sau khu đất trống của quán nước bà T3, Văn mượn điện thoại di động Oppo A54 của V có cài đặt ứng dụng lắc tài xỉu, sau đó cùng Đ2, Ú lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi, Ú, Đ2, V1 làm cái xoay vòng, người làm cái lắc bằng cách bấm trên ứng dụng tài, xỉu trên điện thoại di động, hai người còn lại chọn tài hoặc xỉu, mỗi ván đặt từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, tham gia chơi được 07 ván với tổng số tiền dùng đánh bạc 889.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, Công an xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ kiểm tra và phát hiện mời những người trên về làm việc.
Tang vật thu giữ gồm:
Thu giữ của bị cáo Đặng Thanh H1:
- 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 4, màu vàng đồng, số seri RFCT90GN29Z cùng sim số 0947683468;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen, số seri R58R326YANV cùng sim số 0919027852, 0365049945);
- Số tiền 7.270.000 đồng;
- 01 xe mô tô 68D1 - 632.46 và giấy đăng ký xe.
Thu giữ của bị cáo Nguyễn Công V1:
- 01 cái Samsung Galaxy A03S
- 01 cái Oppo A54 màu xanh đen (mượn của Trần Phú V)
- Số tiền 5.095.000 đồng;
- 01 xe mô tô 65E1 - 257.54
Thu giữ của bị cáo Trần Phú V:
- 01 điện thoại di động S A13, màu xanh đen;
- Số tiền 4.640.000 đồng.
Thu giữ của ông Nguyễn Văn Ú: số tiền 230.000 đồng;
Thu giữ của bà Đỗ Thị D1:
- 01 điện thoại di động Samsung;
- Số tiền 1.600.000 đồng;
- 01 xe mô tô 65K1 – 56341.
Thu giữ của ông Trương Long Đ2: Số tiền 159.000 đồng.
Qua kiểm tra 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo H1 có nội dung mua bán số đề. Công an xã T, huyện C chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C giải quyết.
Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 01/9/2023 đến ngày 30/9/2023 bị cáo H1 tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi bán số đề. H1 sử dụng điện thoại di động S 4 cùng sim số 0947683468 và điện thoại di động S A12 cùng sim số 0919027852, sim số 0365049945 ghi bán số đề và ghi bán trực tiếp cho người mua theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam, Miền T4 và Miền B4 rồi giữ lại ăn thua trực tiếp với người mua số đề. Hình thức ghi bán lô A, B; bao lô 02 con số; bao lô 03 con số và số đá; đối với lô A, B và bao lô 02 con số tỷ lệ ăn thua 1.000 đồng trúng 80.000 đồng; bao lô 03 con và số đá tỷ lệ ăn thua 1.000 đồng trúng 500.000 đồng. Đối với bao lô đài M, Miền T4 nếu người mua 1.000 đồng phải trả cho H1 14.500 đồng; bao lô Miền B4 mua 1.000 đồng phải trả cho H1 22.000 đồng. Qua kiểm tra điện thoại di động của Đặng Thanh H1 thể hiện mua bán số đề các ngày như sau:
- - Ngày 01/9/2023 bán cho Nguyễn Thị Thu đài Vĩnh L 5.865.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng; đài Trà Vinh 5.865.000 đồng; đài B5 1.950.000 đồng;
- - Ngày 03/9/2023 bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 846.000 đồng, trúng 240.000 đồng;
- - Ngày 04/9/2023 ghi bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.080.000 đồng, trúng 2.720.000 đồng;
- - Ngày 05/9/2023 bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 1.033.000 đồng;
- - Ngày 06/9/2023 bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.119.000 đồng, trúng 803.000 đồng;
- - Ngày 07/9/2023 bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 1.393.000 đồng, trúng 320.000 đồng;
- - Ngày 08/9/2023 bán đài Vĩnh Long cho Trần Thị H 5.307.000 đồng, trúng 2.880.000 đồng; 01 tờ phơi ghi bán Miền N1 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.210.000 đồng, trúng 1.920.000 đồng;
- - Ngày 09/9/2023 bán cho Nguyễn Văn T đài Hậu Giang 1.390.000 đồng, trúng 2.320.000 đồng; 01 tờ phơi ghi bán đài M, Miền B4 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.462.000 đồng, trúng 1.920.000 đồng.
- - Ngày 12/9/2023 bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 516.000 đồng, trúng 960.000 đồng;
- - Ngày 13/9/2023 bán đài Miền B4 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 406.000 đồng, trúng 480.000 đồng;
- - Ngày 14/9/2023 ghi bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.795.000 đồng, trúng 1.360.000 đồng;
- - Ngày 15/9/2023 ghi bán đài M, Miền B4 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 3.341.000 đồng, trúng 6.560.000 đồng;
- - Ngày 16/9/2023 ghi bán cho Nguyễn Văn T đài Miền Nam (không rõ đài nào) với số tiền 2.593.000 đồng, trúng 1.280.000 đồng;
- - Ngày 17/9/2023 ghi bán đài M3 (không rõ đài nào, bán cho ai) với số tiền 2.975.000 đồng;
- - Ngày 18/9/2023 ghi bán đài Đồng T5 (không rõ bán cho ai) với số tiền 333.500 đồng;
- - Ngày 19/9/2023 không xác định đài nào (không rõ bán cho ai) với số tiền 1.124.000 đồng;
- - Ngày 20/9/2023 ghi bán đài C (không rõ bán cho ai) với số tiền 4.864.000 đồng, trúng 2.880.000 đồng;
- - Ngày 21/9/2023 ghi bán cho Nguyễn Văn T đài Miền Nam (không rõ đài nào) với số tiền 2.102.000 đồng, trúng 1.920.000 đồng;
- - Ngày 22/9/2023 ghi bán cho Nguyễn Văn T đài Vĩnh Long 4.186.500 đồng, trúng 4.320.000 đồng; đài Trà Vinh 2.048.500 đồng, trúng 1.120.000 đồng; đài Bình Dương 1.223.000 đồng; đài Miền Bắc 1.498.000 đồng, trúng 1.360.000 đồng;
- - Ngày 23/9/2023 ghi bán đài Long An 5.548.000 đồng, trúng 6.240.000 đồng (trong đó, bán cho Nguyễn Công V1 3.485.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn T 2.063.000 đồng, trúng 2.240.000 đồng); bán đài thành phố H 2.697.000 đồng, trúng 4.320.000 đồng (trong đó, bán cho Nguyễn Công V1 2.610.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn T 87.000đồng, trúng 320.000 đồng); đài H2 2.235.000 đồng, trúng 160.000 đồng (trong đó, bán cho Nguyễn Công V1 1.745.000 đồng, bán cho Nguyễn Văn T 490.000 đồng, trúng 160.000 đồng); bán đài Bình Phước 957.000 đồng (trong đó, bán cho Nguyễn Công V1 870.000 đồng, bán cho Nguyễn Văn T 87.000 đồng);
- - Ngày 24/9/2023 ghi bán cho Nguyễn Văn T đài Kiên Giang 2.018.000 đồng, trúng 160.000 đồng; đài Tiền Giang 204.000 đồng, trúng 320.000 đồng; đài Đà Lạt 204.000 đồng, trúng 160.000 đồng; đài Miền Bắc 1.694.000 đồng, trúng 1.840.000 đồng.
- - Ngày 25/9/2023 ghi bán cho Nguyễn Văn T đài Đồng Tháp 1.639.500 đồng, trúng 1.600.000 đồng; đài Cà Mau 368.000 đồng; đài thành phố H 165.000 đồng; đài Miền Bắc 1.452.000 đồng, trúng 720.000 đồng; đài Miền Trung 741.000 đồng, trúng 1.120.000 đồng;
- - Ngày 26/9/2023 ghi bán đài Bạc Liêu 20.569.000 đồng, trúng 1.040.000 đồng (trong đó, bán cho Nguyễn Văn T 2.269.000 đồng, trúng 1.040.000 đồng; bán cho Nguyễn Thị T2 18.300.000 đồng); bán cho Nguyễn Văn T đài Bến Tre 479.000 đồng; đài Vũng Tàu 189.000 đồng, trúng 400.000 đồng; đài Miền Trung 697.000 đồng, trúng 320.000 đồng; đài Miền Bắc 1.034.000 đồng, trúng 960.000 đồng;
- - Ngày 27/9/2023 bán cho Trần Phú V đài Miền Bắc 3.790.000 đồng, trúng 13.000.000 đồng;
- - Ngày 30/9/2023 bán cho Đồng Bá T6 đài Long An 1.162.000 đồng; đài Hậu Giang 97.000 đồng, trúng 400.000 đồng; đài Bình Phước 97.000 đồng, trúng 800.000 đồng.
Đặng Thanh H1 thu lợi bất chính 35.364.000 đồng, Trần Phú V thu lợi 9.210.000 đồng, các bị cáo đã giao nộp. Nguyễn Thị T2 giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 13 màu đen, số seri CTWX9VT711 và số tiền 4.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Công V1 giao nộp 4.000.000 đồng; Đồng Bá T6 giao nộp 01 điện thoại Nokia Model TA - 1235 cùng sim số 0349337203.
Công an xã T, huyện C tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 389.000 đồng (của Trương Long Đ2 159.000 đồng, Nguyễn Văn Ú 230.000 đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C giải quyết trả lại cho Đỗ Thị D1 01 điện thoại di động Samsung, tiền Việt Nam 1.600.000 đồng và xe 01 mô tô 65K1 - 56341; trả lại cho Nguyễn Công V1 01 xe mô tô 65E1 - 257.54.
Công an xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Long Đ2, Nguyễn Văn Ú.
Đồng Bá T6 mua số đề của Đặng Thanh H1 chưa đủ 5.000.000 đồng, và Mai Như T3 sử dụng phần đất trống cho người khác chơi lắc tài, xỉu bản thân T6, T3 chưa có tiền án, tiền sự nên Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T6, T3. Riêng Đỗ Thị D1 không có tham gia đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý đối với D1.
Tại bản án hình sự số 16/2024/HS-ST ngày 11/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Công V1, Trần Phú V, Trần Thị H, Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Công V1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T2 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công V1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Văn T. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Phú V.
Xử phạt bị cáo Trần Phú V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Công V1, Trần Phú V, Trần Thị H mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với Đặng Thanh H1, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi Tuyên án sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Công V1, Trần Phú V, Trần Thị H, Nguyễn Văn T kháng cáo trong hạn luật định.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
– Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Xin được cải tạo ngoài xã hội để có điều kiện chăm sóc gia đình.
– Bào chữa cho các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Văn T, luật sư Lê Minh Đ1 phát biểu: Các bị cáo T, H đều có nhân thân tốt, có trình độ học vấn thấp, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện để được hưởng án treo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo tự nguyện nộp lại tiền dùng để đánh bạc đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo T, H.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định:
Các bị cáo T2, V, V1, H, T thừa nhận vì ham lợi bất chính mà mua số đề từ Đặng Thanh H1, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc đủ định lượng để xem xét trách nhiệm hình sự. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là phù hợp với quy định của pháp luật. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ hành vi các bị cáo đã thực hiện. Đối với việc các bị cáo T, H tự nguyện nộp lại tiền đánh bạc, Kiểm sát viên đánh giá số tiền này không liên quan đến yêu cầu kháng cáo của các bị cáo; không phải là vật chứng trong vụ án, quá trình đánh bạc trái phép, các bị cáo T, H không thu lợi bất chính. Mặt khác, cả hai bị cáo đều thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không chấp nhận việc bị cáo nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 01/9/2023 đến ngày 30/9/2023 các bị cáo H, T, V, V1, T2 đánh bạc trái phép dưới hình thức số đề, các bị cáo mua và trực tiếp thắng thua với chủ đề là Đặng Thanh H1, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, cụ thể:
- - Bị cáo Nguyễn Thị T2:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T: Ngày 22/9/2023 mua số đề theo đài Vĩnh Long số tiền 4.186.500 đồng, trúng 4.320.000 đồng.
- - Bị cáo Nguyễn Công V1: Ngày 23/9/2023 mua số đề theo đài Long An số tiền 3.485.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng; mua số đề theo đài Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 2.610.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng.
- - Bị cáo Trần Phú V: Ngày 27/9/2023 mua số đề theo đài Miền B4 số tiền 3.790.000 đồng, trúng 13.000.000 đồng;
- - Bị cáo Trần Thị H: Ngày 08/9/2023 mua số đề theo đài Vĩnh Long số tiền 5.307.000 đồng, trúng 2.880.000 đồng
Ngày 01/9/2023 mua số đề theo đài Vĩnh Long số tiền 5.865.000 đồng, trúng 4.000.000 đồng; theo đài Trà Vinh số tiền 5.865.000 đồng;
Ngày 26/9/2023 mua số đề theo đài Bạc Liêu 18.300.000 đồng.
Với hành vi và số tiền dùng để đánh bạc trái phép của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là có căn cứ.
[3] Bị cáo T và bị cáo H kháng cáo xin được hưởng cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền, các bị cáo V, V1, T2 kháng cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa ở địa phương, gián tiếp làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều biết rõ hành vi các bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì thỏa mãn máu ăn thua cờ bạc, sát phạt đỏ đen, mong muốn kiếm được tiền không bằng sức lao động chân chính. Cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Trần Phú V, Nguyễn Công V1 đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa hết thời hạn được xem là không có tiền sự lại tiếp tục hiện hành vi đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền. Các bị cáo Nguyễn Thị T2, Trần Công V2 thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình tố tụng, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, cụ thể: Các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo V, H, T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1, V tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo, xét thấy mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng. Ở giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo. Mặt khác, việc Tòa cấp sơ thẩm tuyên buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo giáo dục là cần thiết, đảm bảo được công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại địa phương nơi các bị cáo cư trú trong giai đoạn hiện nay. Hội đồng xét xử thống nhất với đánh giá và đề nghị của kiểm sát viên về việc không ghi nhận cho các bị cáo T, H nộp lại tiền dùng để đánh bạc.
[3.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo T2, V2, V, H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Văn T, Trần Phú V, Nguyễn Công V1 và Nguyễn Thị T2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Văn T, Trần Phú V, Nguyễn Công V1 và Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T2 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công V1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Phú V.
- Xử phạt bị cáo Trần Phú V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
5. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo T2, V1, V, H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Vân |
Bản án số 52/2024/HS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 52/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
