Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 08 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Hinh;
  2. Ông Phan Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/HSST-QĐ ngày 21/6/2024 đối với:

- Bị cáo: Trần Hoàng L; sinh ngày 21 tháng 9 năm 1988 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Số nhà A, Thôn E, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim T và bà Hoàng Thị Hiền L1; có vợ là Lê Thị Kim T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2014/HS -ST, ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2016/HSST ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh và Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2017/HSPT, ngày 13/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2014/HS-ST, ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R'Lấp, tỉnh Đăk Nông, buộc Trần Hoàng L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 54 tháng tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời hạn đã bị tạm giam từ ngày 20/5/2014 đến ngày 13/6/2014. Chấp hành xong hình phạt và các quyết định của bản án từ ngày 29/8/2020. Đã được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp của bị hại gồm có:

+ Ông Ngô Văn M; sinh năm 1968; địa chỉ: Khóm H, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (là bố của bị hại). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Bà Trần Thị Ú, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (là mẹ bị hại); chị Lương Thị H, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ A, ấp F, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (là vợ bị hại). Chị Lương Thị H ủy quyền cho bà Trần Thị Ú thay mặt tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 23/5/2023. Bà Ú có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn X; sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Anh Trần Mạnh L2; sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú: Xóm E, Thôn I, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số nhà A, đường L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

+ Anh Vũ Anh K; sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 16/04/2023, Trần Hoàng L điều khiển xe ô tô loại 05 chỗ ngồi mang biển kiểm soát 49A- 234.86 chở theo 02 người lưu thông trên Quốc lộ B từ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng về huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến Km 168+400 Quốc lộ B thuộc Thôn H, xã G, D, Lâm Đồng vào lúc 19 giờ cùng ngày, L bật đèn báo rẽ và điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang bên trái để rẽ vào đường nhánh thì xảy ra va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 60H6 - 10477 do anh Ngô Quốc S điều khiển chở theo anh Nguyễn Văn X đang lưu thông trên Quốc lộ B theo hướng ngược lại. Hậu quả anh Ngô Quốc S tử vong tại chỗ, anh Nguyễn Văn X bị thương nhẹ. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an huyện D lập lúc 20 giờ ngày 16/4/2023 thể hiện vị trí xảy ra tai nạn ở phần đường bên trái Quốc lộ B theo hướng từ huyện Đ đến huyện D. Tại bản kết luận giám định tử thi số 55/KLGĐTT-PC09, ngày 17/4/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh L kết luận nguyên nhân tử vong của anh Ngô Quốc S do đa chấn thương. Kết quả xác minh cho thấy Trần Hoàng L không có giấy phép lái xe ô tô.

Tại Bản cáo trạng số: 122B/CTr-VKS ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Trần Hoàng L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng L thừa nhận bản thân không có giấy phép lái xe ô tô. Vào ngày 19/02/2023 Vũ A Khoa vay của bị cáo 25.000.000 đồng và cầm cố cho bị cáo chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 49A- 234.86. Đến ngày 16/4/2023 bị cáo đã điều khiển xe ô tô nói trên lưu thông trên Quốc lộ B từ huyện Đ đến xã G, huyện D, do bị cáo điều khiển xe chuyển hướng sang bên trái để vào đường hẻm nhưng thiếu quan sát nên đã gây tai nạn làm anh Ngô Quốc S tử vong và anh Nguyễn Văn X bị thương nhẹ. Bị cáo đã thanh toán chi phí điều trị cho anh X 10.000.000 đồng; bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng theo thỏa thuận. Nay bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho chị H 20.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe mô tô. Thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Trần Mạnh L2 khai: Xe ô tô mang biển kiểm soát 49A- 234.86 được cấp giấy chứng nhận đăng ký và thuộc sở hữu của anh. Do quen biết nên anh đã nhiều lần cho Vũ A Khoa thuê xe ô tô nêu trên. Vào ngày 23/3/2023 anh tiếp tục ký hợp đồng cho Vũ A Khoa thuê xe ô tô mang biển kiểm soát 49A- 234.86 trong thời gian 01 tháng từ ngày 22/3/2023 đến ngày 22/4/2024. Trước khi cho Vũ A Khoa thuê xe anh đã kiểm tra và chụp hình lại giấy phép lái xe hạng B2 của Vũ Anh K, thỏa thuận bên thuê tự lái xe và trả tiền thuê xe 500.000 đồng/ngày, bên thuê không được sử dụng xe thuê đi cầm cố hay thế chấp hoặc sử dụng vào mục đích phi pháp, không được cho thuê lại hoặc giao xe cho người khác sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào. Sau khi ký hợp đồng anh đã giao xe và toàn bộ giấy tờ xe cho Vũ Anh K sử dụng từ ngày 22/3/2023. Đến buổi tối ngày 16/4/2023 anh nhận được thông báo của Công an huyện D đến làm việc, khi đó anh mới biết Vũ Anh K đã cầm xe ô tô thuê của anh cho Trần Hoàng L sử dụng gây tai nạn. Thực tế anh và Trần Hoàng L không quen biết nhau. Nay đã được cơ quan Điều tra trả lại xe ô tô kiểm soát 49A- 234.86 và toàn bộ giấy tờ xe, đã được Trần Hoàng L thanh toán toàn bộ chi phí sửa chữa xe với số tiền 120.000.000 đồng nên không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự. Ngày 27/4/2024 anh đã làm đơn tố cáo yêu cầu xử lý Vũ Anh K về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do đã dùng xe thuê của anh cầm cố cho Trần Hoàng L để lấy số tiền 25.000.000 đồng.

Tại biên bản làm việc ngày 22/01/2024 và đơn xin xét xử vắng mặt ghi ngày 26/02/2024, cha của anh Ngô Quốc S là ông Ngô Văn M không có ý kiến yêu cầu gì trong vụ án. Về phía anh Nguyễn Văn X khai đã được Trần Hoàng L trả 10.000.000 đồng chi phí điều trị, do bị thương nhẹ nên anh không yêu cầu giám định và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Vợ của anh Ngô Quốc S là chị Lương Thị H và mẹ của anh Ngô Quốc S là bà Trần Thị Ú cùng xác định Trần Hoàng L đã thăm hỏi và bồi thường cho gia đình 200.000.000 đồng theo thỏa thuận. Tại phiên tòa bà Ú thay mặt chị H yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 20.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe mô tô và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra, Vũ Anh K khai xe ô tô kiểm soát 49A- 234.86 được anh Trần Mạnh L2 thỏa thuận bán cho K với giá 370.000.000 đồng, K đã trả cho anh L2 40.000.000 đồng và nhận xe để dùng thử trong thời gian 01 đến 02 tháng kể từ tháng 02 năm 2023, sau đó K cầm xe cho Trần Hoàng L và đã thông báo cho anh L2 biết và được anh L2 đồng ý. Đồng thời Vũ Anh K giao nộp cho cơ quan Điều tra 01 bản chính giấy cầm đồ do Vũ Anh KTrần Hoàng L ký ngày 19/02/2023. Tuy nhiên, từ khi Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung lần thứ I vào ngày 28/11/2023 thì Vũ A Khoa vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 38, Điều 50, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoàng L từ 30 đến 36 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về việc Vũ A Khoa thuê xe của anh Trần Mạnh L2 sau đó tự ý cầm xe cho bị cáo L đã được cơ quan Điều tra đã thụ lý tin báo tố giác tội phạm, do Vũ Anh K bỏ đi khỏi điạ phương chưa triệu tập làm việc được nên cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên và của Cơ quan Điều tra Công an huyện D, Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng bảo đảm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong đều hợp pháp.

[2] Đại diện hợp pháp của bị hại ông Ngô Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt do đã bỏ đi khỏi địa phương. Vì vậy, cần căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án là đúng pháp luật.

[3] Lời khai của bị cáo, của người đại diện hợp pháp của bị hại và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường lập ngày 16/4/2023; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn lập ngày 25/4/2023; Kết luận giám định pháp y về tử thi số 55/KLGĐTT-PC09 ngày 17/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L. Qua đó có cơ sở xác định: Vào ngày 16/04/2023, bị cáo Trần Hoàng L không có giấy phép lái xe ô tô nhưng đã điều khiển xe ô tô loại 05 chỗ ngồi mang biển kiểm soát 49A- 234.86 chở theo 02 người lưu thông trên Quốc lộ B đi từ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đến huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến Km 168 + 400 Quốc lộ B thuộc Thôn H, xã G, D, Lâm Đồng vào lúc 19 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang bền trái để rẽ vào đường nhánh nhưng không nhường đường cho xe mô tô mang biển kiểm soát 60H6 - 10477 do anh Ngô Quốc S điều khiển chở theo anh Nguyễn Văn X đang di chuyển theo hướng ngược lại dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả làm anh Ngô Quốc S tử vong và anh Nguyễn Văn X bị thương nhẹ. Hành vi của bị cáo Trần Hoàng L đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Trước khi phạm tội trong vụ án này, bị cáo đã 02 lần bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản và đã được xóa án tích. Nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe người khác và quy định của pháp luật, gây ra hậu quả không thể khắc phục được. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống bình thường một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được đại hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có cha là người có công với cách mạnh được tặng Huân chương Chiến sỹ giải phóng và Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về các vật chứng của vụ án là xe ô tô, mô tô liên quan đến vụ tai nạn đã được cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu. Về trách nhiệm dân sự các bên thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường thêm cho chị H 20.000.000 đồng để sửa chữa xe mô tô nên cần ghi nhận. Về việc Vũ Anh K thuê xe ô tô của anh Trần Mạnh L2 sau đó tự ý cầm xe cho bị cáo L đã được cơ quan Điều tra đã thụ lý tin báo tố giác tội phạm, do hiện nay Vũ Anh K bỏ đi khỏi điạ phương chưa triệu tập làm việc được nên cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 38, Điều 50, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng L 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Áp dụng Điều 585 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận về việc bị cáo Trần Hoàng L có trách nhiệm bồi thường thêm cho chị Lương Thị H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Buộc bị cáo Trần Hoàng L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình).

5. Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh LĐ;
  • - VKSND tỉnh LĐ;
  • - VKSND huyện;
  • - CQ Điều tra Công an huyện;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS Di Linh;
  • - Sở TP Lâm Đồng;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu án văn (1); hồ sơ (1)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng L - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger