Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL,

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 07/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Trúc Linh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và bà Hoàng Thị Thanh.

Thư ký phiên toà: Ông Lý Khởi Vinh - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.

Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Bà Niê Đoan T - Kiểm sát viên.

Ngày 07/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Nguyễn Gia H, sinh ngày 20/01/2002; tại: tỉnh Đăk Nông; nơi đăng ký HKTT và trú tại: Tổ dân phố I, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trường S, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và con bà Nguyễn Thị Hồng P (Đã chết); tiền sự: không; 02 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HSST, ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (do lần phạm tội này Phạm Nguyễn Gia H mới 16 tuổi 04 tháng 05 ngày nên được coi là không có án tích); tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST, ngày 30/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 06 tháng tù, ngày 10/6/2021, chấp hành xong hình phạt; tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HSST, ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, ngày 09/11/2022 chấp hành xong hình phạt; bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt.

Bị hại: Cháu Dương Đình Bảo L, sinh năm 2019; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu L: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Hà Bảo N, sinh năm 2008; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh N: Bà Hà Thị Huyền T1 và ông Nguyễn Tiến P1; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

  • - Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người làm chứng: Cháu Doãn Thị Hải A, sinh năm 2014; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu A: Anh Doãn Văn Q, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 12/3/2024, Phạm Nguyễn Gia H cùng Nguyễn Hà Bảo N đang ở phòng trọ tại TDP A, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì H đi qua phòng trọ bên cạnh của anh Doãn Văn Q hỏi mượn điện thoại để chuyển mạng 4G thì phát hiện cháu Doãn Thị Khánh A1 (sinh ngày 22/10/2014, là con gái anh Q) và cháu Dương Đình Bảo L (sinh ngày 01/02/2019, là con trai chị Nguyễn Thị Đ đang chơi điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb của chị Đ (lúc này chị Đ và anh Q không có mặt ở phòng trọ) nên H hỏi mượn điện thoại thì cháu L cho H mượn, sau khi chuyển mạng 4G xong H trả điện thoại rồi đi về phòng của mình. Do không có tiền tiêu xài, H nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của cháu L để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài, H nói với Nguyễn Hà Bảo N qua phòng trọ anh Q mượn điện thoại di động của cháu L để H mang đi cầm cố thì được N đồng ý. Sau đó, N đi qua gặp cháu L hỏi mượn điện thoại thì cháu L đưa điện thoại và đọc mật khẩu mở khoá điện thoại cho N, N giả vờ cầm điện thoại gọi rồi đi ra phía sau dãy nhà trọ tắt nguồn điện thoại và cất giấu rồi đi về phòng chỉ vị trí cất giấu điện thoại cho H.

Đến khoảng 09 giờ ngày 13/3/2024, HN đến nhà nghỉ A2 thuộc TDP H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để thuê phòng nghỉ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình D đi xe máy điện (xe không gắn biển số) đến chơi, trong lúc D ngủ thì H lấy xe máy điện của D đi đến tiệm cầm đồ Bảo Toàn tại TDP D, TT. Đ cầm cố chiếc điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb cho anh Nguyễn Hoài T2 được 1.000.000 đồng rồi cùng N tiêu xài cá nhân hết. Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS, ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận chiếc điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb, có giá trị là 2.100.000 đồng.

- Vật chứng đã thu giữ: 01 điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb, cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tại bản cáo trạng số 54/Ctr-VKS ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Gia Huy về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nguyễn Gia H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Gia H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Gia H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Gia H từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb, cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 586, Điều 589 BLDS chấp nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi liên quan 1.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Hà Bảo N (mới 15 tuổi 05 tháng 15 ngày), chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên đề nghị chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển Cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hoài T2 là người cầm cố chiếc điện thoại nhưng không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có và Nguyễn Đình D không biết bị cáo sử dụng xe máy điện để đi cầm cố tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nguyễn Gia H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và người tham gia tố tụng khác, phù hợp các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có hai tiền án về tội chiếm đoạt, mặc dù bị cáo không trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb trị giá 2.100.000 đồng của chị Đ do cháu L đang quản lý để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài trước. Sau đó, bị cáo đã xúi giục Nguyễn Hà Bảo N là người dưới 18 tuổi qua phòng trọ anh Q mượn điện thoại di động của cháu L. Sau đó, N đi qua gặp cháu L hỏi mượn điện thoại thì cháu L đưa điện thoại và đọc mật khẩu mở khoá điện thoại cho N, N giả vờ cầm điện thoại gọi rồi đi ra phía sau dãy nhà trọ tắt nguồn điện thoại và cất giấu rồi đi về phòng chỉ vị trí cất giấu điện thoại cho H. Sau đó bị cáo đã mang điện thoại chiếm đoạt được đi cầm cố được số tiền 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Nguyễn Gia H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

d) Tái phạm nguy hiểm;"

[4] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối là “mượn” tài sản là chiếc điện thoại trị giá 2.100.000 đồng thuộc quản lý của cháu L và chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, mà còn gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, răn đe bị cáo để bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi liên quan số tiền 1.000.000 đồng. Gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, mẹ bị cáo chết từ khi bị cáo mới 13 tuổi, hiện nay bị cáo sống cùng với bà nội. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã thành niên phạm tội đối với cháu Lâm sinh năm 2019 là người dưới 16 tuổi và xúi giục Nguyễn Hà Bảo N là người chưa thành niên phạm tội mặc dù bị cáo biết rõ N sinh năm 2008 nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Hoài T2 số tiền 1.000.000 đồng. Xét việc thỏa thuận bồi thường là phù hợp với quy định tại các Điều 584, 586 và 589 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

[8] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Đ điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với Nguyễn Hà Bảo N thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới 15 tuổi 05 tháng 15 ngày nên chấp nhận Công an huyện Đ đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hoài T2 là người cầm cố chiếc điện thoại nhưng không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có và Nguyễn Đình D không biết bị cáo sử dụng xe máy điện để đi cầm cố tài sản do phạm tội mà có nên chấp nhận không xử lý.

[9] Về án phí hình sự: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Nguyễn Gia H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên đại diện viện kiểm sát không đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 và điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là thiếu sót nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng sao cho phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Gia H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 2 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm i, o khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Gia H 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (03/5/2024).

  2. Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng Điều 584, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi liên quan là anh Nguyễn Hoài T2 số tiền 1.000.000 đồng.
  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Đ điện thoại di động Oppo A57, màu xanh, Ram D, dung lượng 128Gb
  4. Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Nguyễn Gia H phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKS ND huyện Đắk Mil;
  • - Đội điều tra CA huyện Đắk Mil;
  • - Đội THAHS CA huyện Đắk Mil;
  • - Bộ phận NVHS CA huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THA DS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có Ql, NVLQ;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Trúc Linh

THÀNH VIÊN HĐXXTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PT

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Nguyễn Gia Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger