Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng

2. Bà Phan Thị Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXX ST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1975, tại: tỉnh Đồng Tháp.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Buôn bán quán cà phê.

Nơi thường trú: Số nhà A, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng ThápNơi tạm trú: Phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình PhướcNơi ở hiện tại: Khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

Cha: Nguyễn Như T1sinh năm: 1945 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị H năm: 1950; Bị cáo có 04 Chị em, lớn nhất sinh năm: 1970, nhỏ nhất sinh năm: 1981; Bị cáo có Chồng: Nguyễn Văn T2sinh năm: 1972 (đã chết), Con: Nguyễn Minh Đ năm: 1997 (đã chết).

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 27/02/2001, TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp có Bản án số: 03/2001/HS-ST, tuyên phạt Nguyễn Thị T1 T24 tháng tù giam về tội Chứa mại dâm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam C8 tỉnh Đồng Tháp, đã đong án phí nên được xóa án tích theo quy định.

Ngày 18/01/2024, bị cáo có hành vi Môi giới mại dâm, bị bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự, đến ngày 23/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 03/01/2024, Nguyễn Thị Thu T2 thỏa thuận và làm hợp đồng với chị Phan Thị Tuyết N việc thuê nhà và mặt bằng quán cà phê “Dốc Tình”, có địa chỉ tại khu phố E, thị trấn T, huyện H. Sau khi thuê, T3 lý và buôn bán nước giải khát tại quán. Trong quá trình buôn bán có một số khách nam có nhu cầu mua dâm nên Tđã tự mình bán dâm cho khách ngay tại phòng ngủ trong quán để tăng thêm thu nhập, giá bán dâm là 300.000 đồng/01 lần. Tuy nhiên, do T2 lớn tuổi nên một số khách không có nhu cầu mua dâm với T để tăng thêm thu nhập Tđã liên hệ và thỏa thuận với Nguyễn Thị Bé Cvà Nguyễn Thị T4 T3để bán dâm khi khách có nhu cầu. Khi thỏa thuận việc mua bán dâm với khách tại quán của TTsẽ thu tiền nước của khách và tiếp viên là 25.000 đồng/01 chai. Dù tiếp viên có uống hoặc không uống, T5 đều thu tiền nước.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, P1 AT5đến quán cà phê “Dốc Tình” của T6 mua dâm. T4và T5đi vào ngồi ở chòi lá thứ 02, bên trái theo hướng từ Quốc lộ A vào phía sau quán; T7 chòi lá gặp T4và T5hỏi: “Hai anh uống nước gì”, T4và T5gọi 02 chai nước ngọt. Sau đó T8 nước ra cho T4và T5rồi tiếp tục hỏi: “Có cần em út gì không?”, T4và T5trả lời có. Sau đó, T9 điện thoại cho C qua Zkêu Cưng đến quán bán dâm thì C1 ý, Một lúc sau C2 gặp T10 tự lấy 01 chai nước ngọt đi ra chòi lá phía sau gặp T4và T5Tại đây Cthỏa thuận việc mua bán dâm với giá 400.000 đồng thì T4và T5đồng ý; nhưng T4và T5yêu cầu thêm một tiếp viên nữa nên T11 tục gọi cho Nguyễn Thị T4 T3thông qua ứng dung Zđể kêu T3đi đến quán để bán dâm thì T3đồng ý. Đến khoảng 13h00 cùng ngày T3đi đến gặp T12 đi ra phía sau chòi gặp T5và T4khi gặp T3thì T5và T4đồng ý mua dâm T3và CT5trả cho Ttiền nước số tiền 100.000 đồng, bao gồm tiền nước của T5T4Cvà T3Mặc dù T3chưa uống nước nhưng Tvẫn thu số tiền 25.000 đồng. Sau đó, CT3T5và T4cùng nhau đi đến nhà nghỉ “Hồng Phúc”, thuộc khu phố E, thị trấn T, huyện H.

Khi đến nhà nghỉ, C3 T4cùng nhau đi vào phòng số 06, còn T5và T3cùng nhau đi vào phòng số 07 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi C3 T4T3và T5đang quan hệ tình dục với nhau thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về việc thu giữ và xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 03 (ba) ruột bao cao su màu vàng nhạt, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu “EROS” màu đỏ, đã qua sử dụng, bị xé làm 02 mảnh; 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu “OK” màu xanh, đã qua sử dụng, bị xé làm 02 mảnh; 06 (sáu) bao cao su nhãn hiệu “EROS”, màu trắng bạc; 01 (một) khăn giấy màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) bao cao su nhãn hiệu “VRT”, màu vàng nhạt (chưa sử dụng); 03 (ba) bao cao su nhãn hiệu “SURE” màu đỏ (chưa sử dụng); 03 (ba) bao cao su nhãn hiệu “EROS”, màu đỏ (chưa sử dụng); 01 (một) bao cao su nhãn hiệu “OK” màu cam (chưa sử dụng); 02 (hai) bao cao su nhãn hiệu “AKASA”, màu trắng bạc (chưa sử dụng); 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu “ROMATIC”, màu tím (đã qua sử dụng): Đây là công cụ của Nguyễn Thị B CNguyễn Thị Thu T3và Nguyễn Thị Thu T13 dụng vào mục đích thực hiện hành vi bán dâm cho khách, hiện

không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A16K, trong điện thoại gắn sim điện thoại mạng Viettel số 0358.928.xxx, là điện thoại di động của bị cáo Tsử dụng liên lạc với các tiếp viên Nguyễn Thị T4 T3và Nguyễn Thị Bé C4 quán cà phê của T6 thỏa thuận mua bán dâm với khách, là công cụ phạm tội . Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án tịch thu, sung công quỹ Nhà nước

Số tiền 850.000 đồng là tiền các đối tượng Phan Duy T4và Vũ AT5sử dụng vào mục đích mua dâm. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 400.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền cá nhân Nguyễn Thị T4 T3không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hđã trả số tiền trên cho Nguyễn Thị T4 T3

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, màu đỏ, số seri: R58M748P09K: Đây là điện thoại di động của Nguyễn Thị T4 T3sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trao trả điện thoại trên cho Nguyễn Thị T4 T3nên không đề cập.

Đối với 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Realme C3, màu xanh, số seri: TWSS59SS599SOREU; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A33, màu xanh nhạt, số seri: RFCTC0VH2NT: Đây là điện thoại di động của Nguyễn Thị Bé Csử d để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trao trả điện thoại trên cho Nguyễn Thị Bé C5 không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh.

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Môi giới mại dâm”; Đề nghị áp dụng các điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T mức hình phạt từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa; tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố những người này đã có trình bày lời khai phù hợp với lời khai bị cáo và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án, cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố bản khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:

Nguyễn Thị Thu T14 chủ quán cà phê “Dốc Tình” thuộc khu phố E, thị trấn T, huyện H khách đến quán giúp T15 thêm thu nhập, T2 tự mình bán dâm cho khách tại phòng ngủ trong quán khi khách có nhu cầu với giá 300.000 đồng/01 lần. Đồng thời, T2 lợi dụng việc buôn bán quán cà phê để làm trung gian, tạo điều kiện thuận lợi cho các tiếp viên nữ ở quán khác đến thỏa thuận việc mua bán dâm với khách. Vào ngày 18/01/2024, T16 điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Thị Bé C6 Nguyễn Thị T4 T3thỏa thuận việc mua bán dâm với P2 T6ngay tại quán cà phê “Dốc Tình”. Sau đó, Nguyễn Thị B CNguyễn Thị Thu T3Phan D T4và V AT6cùng nhau đi từ quán cà phê “Dốc Tình” đến nhà nghỉ “Hồng Phúc” thuộc khu phố E, thị trấn T, huyện H thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.

[4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu T là phù hợp với lời khai của người bán dâm là Nguyễn Thị Bé C7 và Nguyễn Thị T4 T3, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/01/2024, Biên bản nhận dạng, các bản ảnh chụp lại hiện trường, vật chứng thu giữ được, nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Thu T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, do đó Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[5] Xét hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tác nhân gây ra nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện; bị cáo có nhân thân không tốt, ngày 27/02/2001, TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp có Bản án số: 03/2001/HS-ST, tuyên phạt Nguyễn Thị T4 T24 tháng tù giam về tội Chứa mại dâm. Bị cáo đã chấp hành xong

hình phạt tù tại Trại giam C8 tỉnh Đồng Tháp, đã đóng án phí nên được xóa án tích theo quy định nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bà Phan Thị Tuyết N1 trình điều tra xác định, bà N2 hợp đồng cho Nguyễn Thị Thu T17 nhà và đất có địa chỉ tại khu phố E, thị trấn T, huyện H quán cà phê “Dốc Tình”. Trong thời gian cho T17, bà N3 biết, không thỏa thuận và cũng không được lợi ích gì khác từ việc Tbán dâm, môi giới mại dâm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Trần P N1Quá trình điều tra xác định, vào ngày 18/01/2024, N1là người quản lý nhà nghỉ “Hồng Phúc”. Khi các đối tượng Nguyễn Thị B CNguyễn Thị Thu T3Phan Duy T4và V AT6đến thuê phòng nghỉ, N1không biết các đối tượng thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với các tiếp viên Nguyễn Thị Bé Cvà Nguyễn Thị T4 T3Ngày 05/02/2024, Công an huyện H các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 39, 40/QĐ-XPHC, xử phạt số tiền 400.000 đồng về hành vi bán dâm, theo quy định tại khoản 1, Điều 25 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng là phù hợp nên chấp nhận. Các vật chứng khác đã được xử lý trong quá trình điều tra là đúng quy định.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Tại phiên tòa quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tình tiết vụ án, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Môi giới mại dâm".
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng các điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 03 ruột bao cao su màu vàng nhạt, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “EROS” màu đỏ, đã qua sử dụng, bị xé làm 02 mảnh; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “OK” màu xanh, đã qua sử dụng, bị xé làm 02 mảnh; 06 bao cao su nhãn hiệu “EROS”, màu trắng bạc; 01 khăn giấy màu trắng (đã qua sử dụng); 01 bao cao su nhãn hiệu “VRT”, màu vàng nhạt (chưa sử dụng); 03 bao cao su nhãn hiệu “SURE” màu đỏ (chưa sử dụng); 03 bao cao su nhãn hiệu “EROS”, màu đỏ (chưa sử dụng); 01 bao cao su nhãn hiệu “OK” màu cam (chưa sử dụng); 02 bao cao su nhãn hiệu “AKASA”, màu trắng bạc (chưa sử dụng); 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “ROMATIC”, màu tím (đã qua sử dụng). Đây là vật chứng vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng.

    - Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước:

    Số tiền 850.000 (tám trăm năm mươi nghìn).

    01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A16K, trong điện thoại gắn sim điện thoại mạng Viettel số 0358.928.xxx.

    Các vật chứng khác đã được xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

    (Vật chứng đã được mô tả theo như Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

  4. Về biện pháp tư pháp: Truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị Thu T tiền 70.000 đồng (bảy mười ngàn đồng) bị cáo thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm để nộp vào ngân sách nhà nước.
  5. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Nhà tạm giữ CAH Hớn Quản;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu trữ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về môi giới mại dâm (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger