Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 05-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Danh Long.

2. Ông Nguyễn Minh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: LƯƠNG QUỐC ĐẠT – Sinh ngày: 09-11-1996 tại xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lương Quốc H – Sinh năm: 1975; Con bà: Nguyễn Thị H1 – Sinh năm: 1976; Vợ, con: Không.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo Lương Quốc Đ bị xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 119/2022/HS-ST ngày 23-11-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí; Chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự.

Nhân thân: Bị cáo Lương Quốc Đ bị xử phạt tiền số tiền 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 292/QĐ-XPVPHC ngày 23-12-2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

1

Bị cáo Lương Quốc Đ bị bắt tạm giam ngày 23-02-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 24/2024/HSST-QĐTG ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Quốc Đ: Ông Phạm Thế N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt tại điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Bị hại: Anh Phạm Công Đ1 – Sinh năm: 1998; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thùy C – Sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Người làm chứng:

+ Anh Triệu Văn T – Sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

+ Anh Triệu Văn Đ2 – Sinh năm: 1998; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 07-9-2023, bị cáo Lương Quốc Đ một mình đi bộ đến nhà anh Triệu Văn T để ăn cơm, uống rượu cùng với anh Phạm Công Đ1 và một số người thân trong gia đình anh T.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, bị cáo Lương Quốc Đ quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xanh đen xám, biển số 22 B2-555.51 của anh Phạm Công Đ1 dựng ở sân nhà anh T (Đăng ký xe mang tên bà Vũ Thùy C là mẹ đẻ của anh Đ1). Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo Đ nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Đ1 để đem bán lấy tiền. Bị cáo Đ hỏi anh Đ1: “Cho anh mượn xe đi đón bạn ở T, 15 phút sau quay lại trở”, anh Đ1 đồng ý. Sau đó, bị cáo Đ một mình điều khiển chiếc xe mô tô đi theo đường xã B đi xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sang tỉnh Thái Nguyên để bán chiếc xe mô tô của anh Đ1. Khoảng 00 giờ ngày 08-9-2023, bị cáo Đ đi đến khu vực thị xã S, tỉnh Thái Nguyên gặp và bán chiếc xe mô tô của anh Đ1 cho một người đàn ông không quen biết với số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi bán xe, bị cáo Đ cầm tiền rồi đi xe khách đến tỉnh Quảng Ninh trốn. Số tiền bán chiếc

2

xe mô tô, bị cáo Đ đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi bị cáo Đ mượn xe đi lâu không quay lại trả, anh Đ1 đã nhiều lần gọi điện nhưng không liên lạc được với bị cáo Đ nên đã trình báo sự việc.

Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 23-02-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xanh đen xám, biển số 22 B2-555.51, giá trị còn lại 30.800.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại cáo trạng số: 46/CT-VKSSD ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Quốc Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Quốc Đ. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Lương Quốc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Quốc Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Lương Quốc Đ bị bắt tạm giam, ngày 23-02-2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Lương Quốc Đ và bị hại anh Phạm Công Đ1, cụ thể: Bị cáo Lương Quốc Đ phải bồi thường cho bị hại anh Phạm Công Đ1 số tiền 30.800.000đ và phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo Lương Quốc Đ.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội.

- Người bào chữa cho bị cáo Lương Quốc Đ là ông Phạm Thế N có quan điểm nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về phần tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo Lương Quốc Đ mức hình phạt thấp nhất tại khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

3

- Bị cáo Lương Quốc Đ nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo. Không có ý kiến tranh luận, đối đáp.

- Bị hại anh Phạm Công Đ1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Thùy C nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Không có ý kiến tranh luận, đối đáp

Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Lương Quốc Đ đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Lương Quốc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Lương Quốc Đ khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07-9-2023 tại thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Lương Quốc Đ đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xanh đen xám, biển số 22 B2-555.51 của anh Phạm Công Đ1 trị giá 30.800.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với lỗi cố ý. Vì mục đích vụ lợi cá nhân, bằng thủ đoạn gian dối, bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại trị giá 30.800.000đ. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Quốc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lương Quốc Đ thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Quốc Đ đã chưa chấp hành xong toàn bộ Bản án số: 119/2022/HS-ST ngày 23-11-2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự), bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo Đ phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

4

[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Lương Quốc Đ làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Lương Quốc Đ là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân. Như vậy, thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, HĐXX đánh giá khách quan, toàn diện hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lương Quốc Đ. HĐXX nhận thấy, mức hình phạt thấp nhất tại khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Lương Quốc Đ về mức hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Công Đ1 yêu cầu bị cáo Lương Quốc Đ phải bồi thường thiệt hại số tiền là 30.800.000đ. HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến tài sản của anh Đ1 gây thiệt hại. Yêu cầu về bồi thường trách nhiệm dân sự của anh Đ1 phù hợp giá trị thực tế của tài sản bị chiếm đoạt. Bị cáo nhất trí với yêu cầu của bị hại. Do vậy, cần ghi nhận sự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Lương Quốc Đ và bị hại anh Phạm Công Đ1. Bị cáo Lương Quốc Đ phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Phạm Công Đ1 số tiền là 30.800.000đ và phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: HĐXX xét thấy, bị cáo Lương Quốc Đ thuộc hộ nghèo; là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp án phí. Do vậy, HĐXX miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với bị cáo Lương Quốc Đ theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam; ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ

5

quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[11] Về các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe của bị cáo Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xanh đen xám, biển số 22 B2-555.51 là vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra để truy tìm, nhưng chưa tìm thấy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Điều 30; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lương Quốc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lương Quốc Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Lương Quốc Đ bị bắt tạm giam ngày 23-02-2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Lương Quốc Đ và bị hại anh Phạm Công Đ1. Cụ thể:

Bị cáo Lương Quốc Đ phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Phạm Công Đ1 – Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang số tiền 30.800.000₫ (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Lương Quốc Đ.

Về quyền kháng cáo:

6

Bị cáo Lương Quốc Đ; bị hại anh Phạm Công Đ1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Thùy C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 05-6-2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Quốc Đạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger