TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/ HNGĐ-ST Ngày: 04-06- 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thương
Các hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Huỳnh Tài Em
2/- Ông Võ Tấn Phước
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông
Trần Trung Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST- DS ngày 20 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1984 (Vắng mặt);
Địa chỉ: aAK, xVMB, hHB, tBL.
Địa chỉ: : aAK, xVMB, hHB, tBL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 01 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị L trình bày:
Về hôn nhận: Chị Trần Thị L trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến tới đến hôn nhân năm 2005 đến năm 2024 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình nên thường xuyên gây gổ, từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên chị L yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Thanh Q.
Về con chung: Chị L và anh Q có hai con chung cháu tên Nguyễn Duy Ng, sinh năm 2005 đã trưỡng thành và cháu Nguyễn Tường V, sinh năm 2010; (Hiện nay cháu V đang sống với chị L).
Về tài sản chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị L cam kết vợ chồng không có nợ ai.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không ghi lời khai, không tiến hành hòa giải được, đã tiến hành tống đạt hợp lệ anh Q đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng anh Q vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
* Về thủ tục tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán. Hội đồng xét xử. Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả nguyên đơn và bị đơn là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.
* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L đối với anh Nguyễn Thanh Q .
Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Thanh Q không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:
[1]. Về tố tụng: Chị Trần Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q, anh Nguyễn Thanh Q có địa chỉ tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, anh Q được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng anh Q vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét cử vắng mặt anh Q. Anh Q phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 6, Điều 72 và Điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Q, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về hôn nhân: Giữa chị Trần Thị L và anh Nguyễn Thanh Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 15 tháng 01 năm 2024, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa chị L và anh Q phát sinh mâu thuẫn, chị L cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình nên vợ chồng thường xuyên gây gổ và ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay, lời trình bày của chị L phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Mặt khác, Tòa án triệu tập hòa giải nhưng anh Q không đến cho thấy anh Q không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Q theo quy định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Chị L và anh Q có 02 người con chung cháu tên Nguyễn Duy Ng, sinh năm 2005 đã trưỡng thành và cháu Nguyễn Tường V, sinh năm 2010; (Hiện nay cháu V đang sống với chị L), khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu V và hiện tại cháu V đang sống cùng với chị L. Xét thấy, chị L chăm sóc con chung tốt, đảm bảo quyền lợi cho cháu V. Bên cạnh đó cháu V sống với chị L nên tiếp tục giao cháu V cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[4]. Về cấp dưỡng: Ghi nhận chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
[5]. Về tài sản chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[6]. Về nợ chung: Chị L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
[7]. Đối với đề nghị của Đại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là tại phiên tòa, có căn cứ nên được chấp nhận.
[8]. Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Thanh Q không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị L đối với anh Nguyễn Thanh Q. Chị L được ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tường V, sinh năm 2010 cho chị L tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005227 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Thương |
Bản án số 52/2024/ HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 52/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt); Địa chỉ: aAK, xVMB, hHB, tBL. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1984 (Vắng mặt); Địa chỉ: : aAK, xVMB, hHB, tBL.
