|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03/6/2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Minh Tiếp và ông Nguyễn Quyết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký TAND huyện Văn Giang
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Thị C - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:07/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc A, SN: 1992
HKTT/ địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Bị đơn: Anh Đỗ Duy L, sinh năm 1987
HKTT/địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Đỗ Thu P, sinh ngày: 07/10/2014
- Cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày: 04/01/2016
Cùng trú tại: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện hợp pháp của cháu P và cháu V là mẹ đẻ cháu - chị Trần Ngọc A.
Người làm chứng:
- Ông Đỗ Văn K, sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1963
Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Tại phiên toà: Chị A, bà N có mặt. Anh L1, ông K, cháu P, cháu V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Trần Ngọc A trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị với anh Đỗ Duy L tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã L ngày 22/11/2013. Sau khi được bai bên gia đình tổ chức lễ cưới, vợ chồng chung sống tại gia đình chồng ở thôn L. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 10 năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, khi chị A sinh cháu đầu thì anh L chơi bời, cờ bạc, mắng chửi chị, không chịu khó làm ăn. Quá trình chung sống vợ chồng anh, chị thực sự không hợp nhau, không có tiếng nói chung kể từ công ăn việc làm hay bất kể công việc gì trong nhà vợ chồng cũng không thể nói chuyện được với nhau. Mỗi lần vợ chồng mâu thuẫn, cãi nhau căng thẳng thì anh L đều có những lời lẽ xúc phạm chị, thậm chí anh L còn chửi rủa cả gia đình nhà chị A. Nhiều lần vì thương con mà chị A ngồi lại nói chuyện với anh L để cố hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Anh, chị đã ly thân được hơn 03 năm nay, chị A cũng đã dọn ra ngoài ở riêng không còn ở cùng nhà với anh L nữa. Nay tình cảm vợ, chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L, để có điều kiện ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh L có hai con chung là cháu Nguyễn Thu P1, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016. Hiện nay anh L đang nuôi dưỡng hai cháu. Chị đồng ý để anh L nuôi hai con chung vì hiện nay hai cháu đang sinh sống và học tập ổn định cùng anh L tại nhà của bố mẹ đẻ anh L. Hơn nữa do cả hai cháu cũng đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng với bố và hoàn cảnh hiện tại của của chị không có công việc ổn định, thu nhập thấp, phải đi thuê nhà ở nên chị không thể đảm bảo việc nuôi dưỡng và chăm sóc cho hai cháu. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung của anh, chị.
Về tài sản chung, công nợ, công sức và đất nông nghiệp: Vợ chồng chị không có gì chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của bị đơn Đỗ Duy L trình bày: Ngày 23/5/2024 anh L đến Tòa án nhân dân huyện Văn Giang nộp đơn xin giải quyết ly hôn vắng mặt. Trong đơn anh Đỗ Duy L trình bày anh đồng ý ly hôn chị Trần Ngọc A. Đồng thời anh L cũng xác nhận anh và chị A có 02 con chung là cháu Đỗ Thu P sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V sinh ngày 04/01/2016. Anh L1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu P và cháu V đến khi hai cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, thu nhập đi làm của anh L1 khoảng 15 triệu/tháng đủ điều kiện để đảm bảo sinh hoạt và nuôi dưỡng hai cháu. Anh không đề nghị chị A phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất nông nghiệp anh và chị A không có gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Đỗ Thu P - con chung của chị A và anh L1 trình bày: Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cháu thấy bố mẹ cháu hay xảy ra cãi vã to tiếng, ông bà cũng khuyên bảo nhưng bố mẹ cháu vẫn cãi nhau. Hiện giờ mẹ cháu không ở cùng nhà với bố con cháu nữa. Vì còn nhỏ nên cháu không biết lý do tại sao bố mẹ cháu lại cãi cọ với nhau và không ở cùng với nhau nữa. Cháu đồng ý với nguyện vọng ly hôn của mẹ cháu. Cháu hiện nay đang ở cùng bố và ông bà nội, cháu không muốn về ở cùng mẹ cháu. Trong thời gian ở cùng bố và ông bà nội, cháu được ông bà và bố chăm sóc đầy đủ, việc học tập của cháu cũng ổn định, cháu xin Tòa án cho cháu tiếp tục được ở với bố. Cháu bận đi học nên xin được vắng mặt khi Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Đỗ Trần Thành V - con chung của chị A và anh L1 trình bày: Cháu đang học lớp 2 trường tiểu học xã L. Hiện nay hai chị em cháu đang ở cùng bố tại nhà ông, bà nội. Còn mẹ cháu không ở cùng không ở cùng nhà với bố con cháu từ năm cháu học mẫu giáo. Vì còn nhỏ nên cháu không biết lý do tại sao mẹ lại không ở cùng bố, con chúng cháu nữa. Cháu đồng ý với nguyện vọng ly hôn của mẹ cháu. Cháu hiện nay đang ở cùng bố và ông bà nội, cháu không muốn về ở cùng mẹ cháu. Trong thời gian ở cùng bố và ông bà nội, cháu được ông bà và bố chăm sóc đầy đủ, việc học tập của cháu cũng ổn định, cháu xin Tòa án cho cháu tiếp tục được ở với bố. Cháu bận đi học nên xin được vắng mặt khi Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
Người làm chứng ông Đỗ Văn K - bố đẻ anh L1 cho biết: Vợ chồng anh L1 và chị A sau khi kết hôn thì về ở cùng với gia đình ông. Sau này do anh, chị xảy ra mâu thuẫn nên chị A dọn ra thuê nhà ở riêng không ở cùng anh L1 và gia đình ông nữa. Hiện nay anh L1 đang đi làm thợ sơn theo công trình ở đâu thì ông không biết nhưng anh L1 vẫn thỉnh thoảng về nhà và thường xuyên gọi điện thoại về hỏi thăm gia đình. Gia đình có nhận được Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án yêu cầu anh L1 đến làm việc giải quyết ly hôn với chị A, ông đã gọi điện và thông báo cho anh L1 biết, anh có ý kiến anh không về được, anh nhờ ông trình bày với Tòa án là anh bận không có mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh, anh không có ý kiến gì và nhờ ông nhận hộ anh các giấy tờ do Tòa án gửi cho anh. Vợ chồng anh L1, chị A có 02 con chung là cháu Nguyễn Thu P1, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016 hiện hai cháu ở với anh L1 tại nhà của ông K. Gia đình ông và vợ chồng anh L1 không có liên quan gì về tài sản, công nợ, công sức nên ông không có ý cầu gì. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt khi Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
Người làm chứng bà Hoàng Thị N- mẹ đẻ chị A trình bày: Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa hôm nay bà cho biết bà là mẹ đẻ của chị Trần Ngọc A. Anh L1 và chị A sau khi xin phép gia đình tiến tới hôn nhân được cả hai bên gia đình đồng ý, vợ chồng anh, chị về chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh L1. Thời gian đầu anh, chị vẫn chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2014 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Do anh L1 ham chơi không chịu tu chí chăm sóc vợ con và gia đình. Bà cũng nhiều lần khuyên bảo anh, chị cố gắng chung sống nhưng anh L1 vẫn tiếp tục chơi bời không chịu tu chí làm ăn. Chị xin ly hôn và gia đình cũng tôn trọng sự lựa chọn của chị vì chứng kiến chị chung sống cùng anh L1 không có hạnh phúc. Chị A và anh L1 có 02 con chung là cháu Đỗ Thu P sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016. Các vấn đề khác của vợ chồng chị A bà không biết và cũng không liên quan gì về tài sản, công nợ, công sức với vợ chồng anh, chị.
Kết quả xác minh tại UBND xã L thể hiện: Anh Đỗ Duy L và chị Trần Ngọc A đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã L ngày 22/11/2013. Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Thu P, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016.Vợ chồng anh L, chị A có hộ khẩu thường trú tại gia đình anh ở thôn L. Được biết sau khi kết hôn anh chị làm nghề tự do. Anh L1 đã từng bị đi tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vào năm 2020. Chị A cũng không ở nhà chồng từ năm 2022 cho đến nay. Anh L1 từ khi chấp hành án xong trở về địa phương và đang nuôi dưỡng 02 con chung của anh, chị. Vợ chồng anh L1 mâu thuẫn ra sao chính quyền địa phương không nắm được nhưng khoảng thời gian gần đây anh L1 không có mặt tại địa phương, anh làm gì ở đâu không rõ, được biết anh vẫn liên hệ với gia đình và thỉnh thoảng về thăm nhà, chăm sóc con chung.
Sau khi thụ lý vụ án, do anh L1 vắng mặt tại nơi thường trú nhưng anh vẫn liên hệ với người thân trong gia đình qua điện thoại nhưng giấu địa chỉ thông qua ông Đỗ Văn K bố đẻ anh L1, ông K vẫn liên hệ được với anh L1 và anh đã nhờ ông K nhận các văn bản tố tụng do Tòa án gửi cho anh. Tòa án đã giao đầy đủ các văn bản tố tụng khi giải quyết vụ kiện cho anh L1 thông qua ông K. Tại phiên tòa hôm nay anh L1 đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ kiện vắng mặt anh L1.
Tại phiên toà:
Chị A giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Văn Giang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoạt động thu thập chứng cứ đúng trình tự thủ tục đảm bảo khách quan, Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục tố tụng tại phiên toà được Hội đồng xét xử tiến hành đảm bảo đúng quy định.
Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không đến làm việc theo giấy triệu tập và theo các văn bản tố tụng của Tòa án đã được giao hợp lệ, không tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin được giải quyết ly hôn vắng mặt có lý do chính đáng đầy đủ quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị được ly hôn anh Đỗ Duy L. Về con chung đề nghị giao cháu Đỗ Thu P và cháu Đỗ Trần Thành V cho anh L nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên, chị A không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất nông nghiệp không đặt ra giải quyết. Về án phí, nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị A về việc xin ly hôn anh Đỗ Duy L; HKTT: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và xin được nuôi dưỡng con chung. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Văn Giang thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hôn nhân gia đình là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định pháp luật.
Bị đơn anh Đỗ Duy L vắng mặt tại nơi cư trú, anh vẫn liên hệ với người thân nhưng không cho ai biết địa chỉ của anh. Theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc bị đơn anh Đỗ Duy L vắng mặt tại nơi cư trú nhưng không cho ai biết địa chỉ mới được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa anh Đỗ Duy L vắng mặt nhưng anh đã có đơn xin được giải quyết ly hôn vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu P, cháu V; những người làm chứng là ông K đã có lời khai xin xét xử vắng mặt. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2]. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh L được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 22/11/2013, đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo hộ. Vợ chồng anh chị chung sống không hạnh phúc do anh L chơi bời nợ nần, không tu chí làm ăn và không chăm lo cho gia đình. Khoảng thời gian gần đây anh L đi làm ăn ở đâu không cho ai biết địa chỉ, anh chỉ liên hệ với người thân qua điện thoại và thỉnh thoảng về nhà. Vợ chồng không còn liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Hiện chị A không ở gia đình anh L mà chuyển ra ngoài thuê nhà ở riêng. Chị xin được ly hôn anh L để ổn định cuộc sống.
Quá trình giải quyết vụ kiện do anh L vắng mặt tại nơi thường trú và giấu địa chỉ. Tuy nhiên Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho anh thông qua bố đẻ anh là ông K. Ông cho biết anh L có nhờ ông trình bày với Tòa án là anh không thể về để giải quyết ly hôn được, anh đề nghị Tòa án xét xử vụ kiện vắng mặt anh. Ông K đã nhận thay anh L các văn bản tố tụng mà Tòa án gửi cho anh và thông báo cho anh L biết xong anh vẫn vắng mặt.
Qua lời khai của chị A, lời khai của những người làm chứng, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị thường trú thấy rằng những gì chị A trình bày là đúng. Anh chị xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh L chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến vợ con, anh làm gì ở đâu không cho ai biết. Vợ chồng xa cách thời gian đã lâu, không hạnh phúc, hai anh chị cũng không còn ở cùng nhà với nhau, hai bên không còn liên lạc quan tâm gì đến nhau. Chứng tỏ hôn nhân của anh chị trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị A là chính đáng, phù hợp với thực tế hôn nhân của vợ chồng, phù hợp pháp luật nên HĐXX sẽ chấp nhận yêu cầu này của chị.
[3] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Thu P sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016 đang do anh L nuôi dưỡng. Chị A có nguyện vọng để anh L tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu P và cháu V. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy hiện anh L đang là người nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu. Nguyện vọng của cả hai cháu cũng muốn tiếp tục được ở với anh L, hơn nữa hoàn cảnh hiện tại của chị A không có nhà ở, không có việc làm và thu nhập không ổn định, không có điều kiện nuôi dưỡng hai cháu, anh L có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai cháu nên HĐXX sẽ chấp nhận yêu cầu nêu trên của chị A về con chung.
[4] Về công sức, tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết và do anh L trong đơn xin giải quyết ly hôn vắng mặt cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết vấn đề này.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 229; Điều 235; Điều 266; Điều 267 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Luật phí và lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử :
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Ngọc A được ly hôn anh Đỗ Duy L.
2. Về con chung: Giao cho anh Đỗ Duy L được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Thu P, sinh ngày 07/10/2014 và cháu Đỗ Trần Thành V, sinh ngày 04/01/2016 đến khi cháu P, cháu Văn đủ tuổi thành niên, chị Trần Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi cháu P và cháu V.
Sau ly hôn không ai được cản trở, ngăn cấm chị Trần Ngọc A thăm nom, chăm sóc con chung.
Vì quyền lợi của con chung, chị A và anh L đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn.
3.Về công sức, tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp: Không giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết ở vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Trần Ngọc A phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001343 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Giang, nay chị A không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Lâm |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Trần Ngọc A được ly hôn anh Đô Duy L
