|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HS-ST
Ngày 02 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, ông Tẩn A Sếnh
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 04/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 17/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A L – Sinh ngày 05/4/2004, tại huyện S, tỉnh Lai Châu;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vàng A P (Đã chết); Con bà: Lý Thị Đ, sinh năm 1976. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt truy nã và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Lai Châu từ ngày 06/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Bà Phàn Thị T - sinh năm: 1969; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Anh Lý A Á - sinh năm: 1995; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phàn Thị C - sinh năm: 1990; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Lý A Đ1 - sinh năm 2000; vắng mặt
Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. - Lý A B - sinh năm 1994; vắng mặt
Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. - Tẩn A K - sinh năm 2002; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. - Lý Thị Đ - sinh năm 1976; vắng mặt
Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Buổi tối ngày 01/6/2023, bị cáo Vàng A L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a BKS: 25S1- 057.92 của gia đình chở Tẩn A ra quán ở bản N, xã N để uống nước. Tại đây bị cáo L gặp Lý A Đ1 và Lý A B, L đứng ở ngoài cùng Đ1 và B thì Đ1 rủ B và L về nhà Đ1 trộm cắp chiếc két sắt của anh trai Đ1 tên là Lý A Á sinh năm 1995, sinh sống cùng ông T1 và bà T, mục đích để lấy tài sản bên trong đem bán lấy tiền tiêu xài, B và L đồng ý. Sau khi bàn bạc xong B lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a BKS: 25S1- 057.92 của L điều khiển chở Đ1 về nhà để lấy trộm két sắt. Khi Đ1 và B đi thì L nói cho K biết việc Đ1 rủ B và L đi trộm cắp tài sản và rủ khao tham gia, K nhất trí, sau đó hai người vào quán nước đợi. Một lúc sau Đ1 và Bọng quay về quán nước, Đ1 nói với L và K là đã lấy được két sắt mang lên rừng rồi, cả bốn người đi một xe không đủ, Đ1 bảo K về lấy thêm một xe nữa. Tẩn A K về nhà lấy xe mô tô của gia đình rồi cả bốn người cùng đi hai xe mô tô lên vị trí Đ1 giấu chiếc két sắt vừa trộm được. Tại đây cả bốn người dùng cuốc chim đập, phá két sắt lấy được 03 vòng đeo tay bằng kim loại bạc, trong đó: 02 vòng có đường kính 6,5cm và 01 vòng có đường kính 05cm, chiều cao (bản rộng) 2,3cm, Đ1 cầm lấy 03 chiếc vòng kim loại bạc, rồi cả 04 người đẩy chiếc két sắt xuống taluy âm ngay cạnh đường, giấu cuốc chim vào bụi cây ven đường gần đó. Lấy trộm được 03 chiếc vòng kim loại bạc, cả 04 người đi về bản Ngài Chồ, xã N. Về đến bản, L và K đợi ở khu vực ngã ba trong bản, B cùng Đ1 mang vòng kim loại bạc đến nhà Phàn Thị C, sinh năm 1990, trú cùng bản bán cho C. Khi đến nơi, B đứng ở ngoài cổng, Đ1 mang 03 vòng kim loại bạc vào nhà để bán cho C nhưng không nói rõ về nguồn gốc chiếc vòng này. Sau khi thỏa thuận thống nhất giá cả, C đồng ý mua 01 vòng tay kim loại bạc đường kính 5cm, bản rộng 2,3cm với số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng. Số tiền bán được Đ1 cùng Lý A B, Tẩn A K1 và Vàng A L đem đi tiêu xài hết.
Sau khi phát hiện chiếc két sắt bị mất trộm, gia đình xác định là do Đ1 lấy trộm nên ngày 02/6/2023 bà Phàn Thị T (mẹ đẻ của Đ1) yêu cầu Đ1 lấy tài sản trộm cắp được trả lại cho gia đình, Lý A Đ1 lấy 02 chiếc vòng kim loại bạc chưa tiêu thụ được ra đưa cho bà T. Ngày 04/6/2023 bà Phàn Thị T đến Công an xã N, huyện S trình báo vụ việc. Công an xã N đã lập hồ sơ xác minh sơ bộ ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S giải quyết theo thẩm quyền. Trong quá trình xác minh, Vàng A L đã trốn khỏi địa phương, nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Vàng A L ra để tiếp tục điều tra. Đến ngày 06/4/2024, Vàng A L quay về địa phương và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt theo Quyết định truy nã.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện S kết luận: 01 két sắt nhãn hiệu KIM KHI VIET TIEP, vỏ màu xanh, mua mới và sử dụng từ tháng 4 năm 2022, két chưa bị hư hỏng trị giá: 1.233.333 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 4649/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của V Bộ C1 kết luận:
- 01 vòng tròn kim loại màu bạc, mặt ngoài có hoa văn gửi giám định có khối lượng 103,71 gam là hợp kim của bạc, đồng; hàm lượng bạc 72,11%, đồng: 27,89%.
- 02 vòng tròn kim loại màu bạc gửi giám định có tổng khối lượng 20,81 gam đều là hợp kim của bạc, cadimi, đồng, kẽm; hàm lượng trung bình bạc: 72,11%, cadmi: 19,00%, đồng: 5,57%, kẽm: 3,32%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện S kết luận: 01 vòng tròn hợp kim của bạc, đồng (hàm lượng bạc 72,11%, đồng 27,89%) có khối lượng 103,71 gam, mặt ngoài có hoa văn, trị giá: 1.900.000 đồng; 02 vòng tròn đều là hợp kim của bạc, đồng (hàm lượng bạc 72,11%, đồng 27,89%) có khối lượng 20,81 gam, trị giá: 360.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a BKS: 25S1- 057.92 mà Vàng A L đùng để thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra đã xác minh chiếc xe là tài sản của bà Đ khi L phạm tội bà Đ không biết không liên quan đến hành vi phạm tội và trả lại chiếc xe cho bà Lý Thị Đ, sinh năm 1976 (mẹ của bị cáo L).
Đối với các vật chứng khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và tại bản án sơ thẩm số 27/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã tuyên xử theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Đã được giải quyết theo bản án số 27/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, bản án phúc thẩm số 10/2024/HS – PT ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ý kiến gì và đề nghị gì khác.
Bản cáo trạng số 28/CT - VKSSH ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Vàng A L ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xét vai trò đồng phạm của bị cáo L, xử phạt bị cáo Vàng A L từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong trong vụ án khác. Những người bị hại Phàn Thị T, Lý A Á, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phàn Thị C, Lý A Đ1, Lý A B, Tẩn A K1, Lý Thị Đ đều không có đề nghị và ý kiến gì. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong trong vụ án khác.
Bị cáo không có tranh luận gì khác với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo Vàng A L rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định:
Buổi tối ngày 01/6/2023, tại bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu bị cáo Vàng A L cùng với Lý A Đ1, Lý A B, Tẩn A K1 đã trộm cắp 01 két sắt nhãn hiệu KIM KHI VIET TIEP, trị giá 1.233.333 đồng mang lên đồi đập, phá lấy 03 vòng tay kim loại bạc trị giá 2.260.000 đồng (tổng trị giá các tài sản là 3.493.333 đồng) của Lý A Á, mục đích để tìm tài sản bên trong chiếc két bán lấy tiền tiêu sài.
Hành vi phạm tội của Vàng A L là nguy hiểm cho xã hội bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Lý A Đ1, Lý A B và Tẩn A K1 đã được điều tra, truy tố và xét xử tại bản án số 27/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ và bản án phúc thẩm số 10/2024/HS – PT ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú và bị Cơ quan Công an truy nã. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bên cạnh đó bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đã giải quyết xong và đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong trong vụ án khác. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề liên quan:
Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Lý A Đ1, Lý A B và Tẩn A K1 đã được điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a BKS: 25S1- 057.92 là tài sản của bà Lý Thị Đ khi bị cáo L phạm tội bà Đ không biết không liên quan đến hành vi phạm tội và trả lại chiếc xe cho bà Lý Thị Đ, sinh năm 1976 (mẹ của bị cáo L) là đúng quy định.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện S nhận định, xử lý theo quy định của pháp luật khi xét xử vụ án Lý A Đ1 cùng đồng phạm trộm cắp tài sản.
[8] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
- Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Về án phí:
Xử phạt bị cáo Vàng A L: 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Miễn án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng A Lành phạm tội Trộm cắp tài sản
