Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/DS-ST

Ngày: 02/5/2024

“V/v Tranh chấp về ranh giới

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền và bà Hồ Thị Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29/02/2024, ngày 22/3/2024, từ ngày 22/4/2024 đến ngày 02/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 327/2023/TLST-DS ngày 05/4/2023, về việc “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-DS ngày 29/01/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn:

Ông Trương Văn M, sinh năm 1963;

Nguyễn Thị D, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ngày 05/6/2023.

Ông Võ Văn L, sinh năm 1964;

Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Bùi Văn B, sinh năm 1946 (Đã chết);

Nguyễn Thị H2, sinh năm 1947 (Đã chết);

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B và bà H2:

Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1969;

Ông Bùi Thanh L1, sinh năm 1976;

Ông Bùi Văn H3, sinh năm 1978;

Ông Bùi Văn L2, sinh năm 1982;

Ông Bùi Văn D1, sinh năm 1984;

Anh Bùi Thanh V, sinh năm 1991;

Chị Bùi Thị Ngọc M2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bùi Thị Kim L3, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bùi Thị Kim P, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Ông Bùi Văn Đ1, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Chị Bùi Thị Ngọc H4, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Ngô Văn C, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Thị Kiều L4, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngân Hàng N3;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T, chức vụ: Tổng giám đốc. Địa chỉ: Số B, đường L, quận B, thành phố Hà Nội (Chi nhánh huyện T. Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

Ngân Hàng TMCP Đ2;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T1, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ trụ sở: T, C H, quận H, thành phố Hà Nội (Phòng G - Địa chỉ: Số I, đường G, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

Ủy Ban Nhân Dân Huyện T;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Thanh B1, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện. Địa chỉ trụ sở: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông H, ông L, bà H1, ông L1, ông V1 có mặt; Anh M2 có mặt phiên tòa ngày 22/4/2024 nhưng vắng mặt không có lý do khi Hội đồng xét xử tuyên án; Bà D, ông Đ, ông L2, chị M2, bà L3, ông Đ1, chị H4, anh V1, ông C, Ngân hàng Nông nghiệp và Ủy ban vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông H3, ông D1, bà P, bà L4 và Ngân hàng B2 vắng không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Phan Văn H trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp ranh với ông M, ông L và ông B là do ông khai phá từ năm 1980, đến năm 1986 thì ông chuyển nhượng 01 phần đất lại cho ông B, đến năm 1994 thì ông được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Đối với lần cấp giấy này thì không có Cơ quan chuyên môn nào đo đạc. Ông sử dụng phần đất này liên tục từ đó cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất thì phía ông M, ông L và ông B có lấn qua ông 01 phần đất nên ông mới khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, ông đã chuyển nhượng cho ông V1 phần đất khoảng 11 công tầm nhỏ, hai bên chỉ mới làm giấy tay, ông chưa giao đất cho ông V1 sử dụng và cũng chưa sang tên qua cho ông V1 nhưng đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V1 giữ cho đến nay. Đồng thời, ông có đổi 03 công đất tầm nhỏ với ông C, phần đất 03 công này ông C nhận chuyển lại từ ông B nên mới đổi đất cho ông nhưng hai bên chưa sang tên và ông đang sử dụng phần đất này. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông V1 và hợp đồng đổi đất giữa ông với ông C thì các bên sẽ tự thỏa thuận bên ngoài, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổ so với khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ. Đối với phần đất này là tài sản chung của vợ chồng ông, các con của ông không có công sức đóng góp gì vào phần đất này nên ông đề nghị Tòa án không đưa các con của ông vào tham gia trong vụ án này.

Ông xin thay đổi yêu cầu so với đơn khởi kiện là nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh mà ông đã xác định trong Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023 và cũng chỉ yêu cầu ông M, ông L và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B trả lại phần đất đã lấn chiếm trên. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Văn M1 trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp ranh với ông H là do ông M nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn V2, đến năm 1994 thì ông M được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Đối với lần cấp giấy này thì không có Cơ quan chuyên môn nào đo đạc. Ông M sử dụng phần đất này liên tục từ đó cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất thì ông M không có lấn ranh như ông H trình bày. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổ so với khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ. Đối với giấy đất hiện nay ông M đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ2 - Phòng giao dịch huyện T để vay tiền. Đối với phần đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông M, các con của ông M không có công sức đóng góp gì vào phần đất này.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông M không đồng ý, ông M yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh mà ông M đã xác định trong Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023. Ngoài ra, ông M không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại văn bản ý kiến bà Nguyễn Thị D trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là do vợ chồng bà tạo lập, đây là tài sản chung của vợ chồng bà. Bà thống nhất giao cho ông M toàn quyền quyết định. Đối với vụ án này bà không có yêu cầu gì. Bà thống nhất theo kết quả giải quyết của Tòa án.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Võ Văn L và bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp ranh với ông H là do ông và bà nhận chuyển nhượng từ ông B vào năm 1997, đến năm 1998 thì ông L được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Đối với lần cấp giấy này thì không có Cơ quan chuyên môn nào đo đạc. Ông và bà sử dụng phần đất này liên tục từ đó cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất thì ông và bà không có lấn ranh như ông H trình bày. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổ so với khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ. Đối với giấy đất hiện nay ông và bà đang thế chấp tại Ngân hàng N3 - Phòng giao dịch huyện G để vay số tiền 700.000.000 đồng. Đối với phần đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông và bà, các con của ông và bà không có công sức đóng góp gì vào phần đất này nên ông và bà đề nghị Tòa án không đưa các con của ông và bà vào tham gia trong vụ án này.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông và bà không đồng ý, ông và bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh mà ông và bà đã xác định trong Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023. Ngoài ra, ông và bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Bùi Thanh L1 trình bày: Ông con ruột của ông B (Đã chết năm 2022) và bà H2 (Đã chết năm 2021). Hàng thừa kế thứ nhất của ông B và bà H2 gồm: Cha của ông B là cụ Bùi Văn É (Chết năm 1974); Mẹ của ông B là cụ Nguyễn Thị N (Chết năm 2003); Cha của bà H2 là cụ Lê Văn N1 (Chết lâu nên nay không nhớ năm nào); Mẹ của bà H2 là cụ Trần Thị M3 (Chết lâu nên nay không nhớ năm nào); Con của ông B và bà H2 gồm: Ông Bùi Văn T2 (Chết lúc 17 tuổi, chưa có vợ con gì), ông Đ, ông Bùi Văn T3 (Đã chết), ông, ông H3, ông L2, ông D1, anh V1, chị M1, bà L3, bà P, ông Đ1, chị H4, ngoài ra không còn ai khác. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp ranh với ông H là do ông B nhận chuyển nhượng từ ông H vào năm 1986 khoảng 12 công tầm nhỏ và nhận chuyển nhượng từ bà T4 (Không nhớ chữ họ, lót, năm sinh và địa chỉ) vào năm 1990 khoảng 10 công, đến năm 1994 thì ông B được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Đối với lần cấp giấy này thì không có Cơ quan chuyên môn nào đo đạc. Ông B sử dụng phần đất này liên tục từ đó cho đến khi chết và hiện nay ông là người sử dụng phần đất này. Trong quá trình sử dụng đất thì ông B không có lấn ranh như ông H trình bày. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổ so với khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ. Đối với giấy đất của ông B hiện nay ông đang giữ không có thế chấp cho cá nhân hoặc tổ chức nào.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông không đồng ý, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh mà ông đã xác định trong Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản không tiến hành hòa giải được ông Bùi Văn Đ trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này ông không có yêu cầu gì. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt ông Bùi Văn L2 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này ông không có yêu cầu gì. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Ngọc M2 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này chị không có yêu cầu gì. Ngoài ra, chị không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản không tiến hành hòa giải được và phiên tòa sơ thẩm ngày 22/3/2024 anh Bùi Thanh V trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản không tiến hành hòa giải được bà Bùi Thị Kim L3 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt ông Bùi Văn Đ1 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này ông không có yêu cầu gì. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Ngọc H4 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông L1. Đối với vụ án này chị không có yêu cầu gì. Ngoài ra, chị không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn V1 trình bày: Vào năm 2020, ông có nhận chuyển nhượng của ông H phần đất diện tích 11.000m², với giá là 117.000.000 đồng/1.000m2, tổng giá trị là 1.287.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng bằng giấy tay thì ông đã đưa cho ông H tổng cộng là 1.237.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng thì khi nào sang tên xong thì sẽ giao đủ. Sau khi ký hợp đồng thì ông H thuê phần đất này lại với giá 30.000.000 đồng/năm cho đến nay. Sau khi ký hợp đồng thì ông H giao giấy đất cho ông giữ từ đó cho đến nay. Đối với giấy đất này ông đang giữ ở nhà không có thế chấp cho cá nhân hoặc tổ chức nào. Đối với số tiền nhận chuyển nhượng trên là tài sản chung của vợ chồng ông, vợ ông tên Nguyễn Thị N2, sinh năm 1966, cùng địa chỉ với ông. Đối với vụ án này vợ chồng ông không có yêu cầu gì nên ông đề nghị Tòa án không đưa bà N2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này.

Đối với vụ án này ông không có yêu cầu gì. Đối với hợp đồng chuyển nhượng và thuê đất giữa ông với ông H thì hai bên sẽ tự thương lượng bên ngoài không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp không thương lượng được thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản không tiến hành hòa giải được ông Ngô Văn C trình bày: Trước năm 2013 (Không nhớ năm nào) thì ông nhận chuyển nhượng phần đất khoảng 3.000m² đến 3.500m², thời điểm đó chưa có đo nên không biết chính xác là bao nhiêu, với giá là 1,2 cây vàng 24 kara/1.000m². Khi chuyển nhượng hai bên chỉ làm giấy tay. Sau khi ký hợp đồng thì ông đã đưa cho ông B tổng cộng 3 cây vàng 24 kara, số còn lại sẽ giao đủ khi sang tên qua cho ông. Đối với phần đất này hiện nay ông B vẫn còn đứng tên chưa sang tên qua cho ông. Đến năm 2013, ông với ông H có thỏa thuận miệng với nhau về việc đổi đất, theo đó ông H lấy phần đất này, còn ông lấy của ông H phần đất khác khoảng 2,7 công tầm nhỏ. Từ khi đổi đất với nhau thì ông H canh tác phần đất này từ đó cho đến nay. Đối với số tiền chuyển nhượng đất và phần đất đổi trên là tài sản của cá nhân ông, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai.

Đối với vụ án này ông không có yêu cầu gì. Đối với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông B và hợp đồng đổi đất giữa ông với ông H thì các bên sẽ tự thương lượng bên ngoài không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp không thương lượng được thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt Ngân hàng N3 trình bày: Với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng N3 Chi nhánh huyện T không yêu cầu Tòa án giải quyết vì xét thấy việc tranh chấp giữa ông H với ông M không ảnh hưởng tới quyền lợi của Ngân hàng N3.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt UBND huyện T trình bày: UBND huyện T sẽ thực hiện kết quả giải quyết vụ án của Tòa án khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.

* Đối với ông H3, ông D1, bà P, bà L4Ngân hàng B2 đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.

* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 100 và Điều 166 của Luật đất đai và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Đối với tranh chấp giữa ông H với ông M: Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với diện tích 863,7m². Đồng thời, không chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn đối với diện tích 494,2m².
  • + Đối với tranh chấp giữa ông H với ông B, bà H2: Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với diện tích 28,5m². Đồng thời, không chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn đối với diện tích 517,5m².
  • + Đối với tranh chấp giữa ông H với ông L, bà H1: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiển của ông H đối với diện tích 737,7m².

* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm:

- Nguyên đơn nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:

  • + Căn cước công dân và sổ hộ khẩu (Bản photo);
  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản photo);
  • + Sơ đồ đo đạc ngày 24/10/2018 (Bản sao);
  • + Đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí, án phí;
  • + Xác nhận giá đất (Bản photo);
  • + Quyết định về việc kết nạp hội viên (Bản photo);
  • + Truy tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 04/09/2015 (Bản photo);
  • + Biên bản hòa giải ở cơ sở (Bản photo);
  • + Trích lục bản đồ địa chính ngày 23/7/2015 (Bản photo);
  • + Quyết định của UBND huyện T ngày 06/8/1998 (Bản photo);
  • + Bảng đề nghị ngày 05/8/1998 (Bản photo);
  • + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/7/1998 (Bản photo);
  • + Biên bản đo đạc xác định ranh đất (Bản photo).

- Bị đơn nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản photo);
  • + Văn bản ủy quyền (Bản chính);
  • + Trích lục khai tử (Bản photo);
  • + Tờ nhượng đất và đổi đất (Bản photo);
  • + Đơn yêu cầu xác minh (Bản photo).

- Các đương sự còn lại không có nộp tài liệu, chứng cứ gì.

- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập gồm:

  • + Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá;
  • + Sơ đồ đo đạc phần đất đang tranh chấp và phụ lục kèm theo;
  • + Biên bản lấy lời khai;
  • + Các văn bản trả lời và tài liệu kèm theo của các cơ quan chuyên môn.

Các tài liệu trong hồ sơ đã được công khai theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 16/4/2024.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Về nguồn gốc đất và các tài liệu, chứng cứ trong vụ án.

* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Xác định ranh giới quyền sử dụng đất các thửa đất của các bên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật:

- Ông H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • + Ông H yêu cầu ông M trả lại cho ông H phần đất đã lấn chiếm chiều ngang 01m, chiều dài 465m, diện tích 465m², thuộc 01 phần thửa số 175 và 280, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • + Ông H yêu cầu ông L trả phần đất giáp hậu kênh 500 là 4,11m, dài 219m, phần giáp đất ông B là 5,18m, diện tích 1.467m², thuộc thửa số 175, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • + Ông H yêu cầu ông B trả lại cho ông H phần đất chiều ngang 5,18m, chiều dài 187,2m, diện tích 936m² (Phần đất giáp thửa số 280 và thửa số 175 của ông H giáp với đất ông B đang canh tác). Đồng thời, ông H yêu cầu ông B trả lại cho ông H phần đất chiều ngang 4,27m, dài 36m, diện tích 154m² (Phần đất giáp thửa số 280 của ông H với thửa số 279 của ông B), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Nay ông H xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh mà ông H đã xác định trong Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng:

- Theo quyết định hoãn phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Đào Văn H5 và bà Hồ Thị T5. Tại phiên tòa sơ thẩm, do ông H5 bận đi công tác đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được thay thế bằng ông Nguyễn Thanh Minh H6 là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Các đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

- Đối với ông Đ, ông L2, chị M2, bà L3, ông Đ1, chị H4, ông C, Ngân hàng Nông Nghiệp, UBND huyện T vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với ông H3, ông D1, bà P, bà L4 vắng không có lý do chính đáng. Đối với anh M2 có mặt tại phiên tòa ngày 22/4/2024 nhưng vắng mặt không có lý do khi Hội đồng xét xử tuyên án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 4 Điều 264 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử và tuyên án vắng mặt đối với các đương sự trên.

- Đối với Ngân hàng B2 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến hoặc yêu cầu gì. Đồng thời, ông M cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thế chấp giữa ông M với Ngân hàng B2 và cũng không có yêu cầu gì liên quan đến Ngân hàng B2. Ngoài ra, các đương sự có mặt đều thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt Ngân hàng B2. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng B2.

- Đối với hàng thừa kế thứ nhất của ông B và bà H2 thì ông L1 xác nhận cha, mẹ của ông B và bà H2 đều đã chết, hiện nay chỉ còn có các con của ông B và bà H2 là ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông Đ1, ông L2, ông D1, chị H4, anh V1, chị M2, ngoài ra không còn ai khác. Đồng thời, ông L1 là người đang quản lý, sử dụng phần đất do ông B đứng tên và phía ông H khởi kiện ông B và bà H2. Do đó, việc Tòa án xác định ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông Đ1, ông L2, ông D1, chị H4, anh V1, chị M2 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B và bà H2 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, giữa các đương sự này không có phát sinh tranh chấp gì và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

  • + Đối với phần đất của ông H đang tranh chấp ranh giới với ông M, ông L và ông B có nguồn gốc là do gia đình ông H khai phá từ năm 1980, đến năm 1994 thì ông H được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.
  • + Đối với phần đất của ông M đang tranh chấp ranh giới với ông H có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn V2, đến năm 1994 thì ông M được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.
  • + Đối với phần đất của ông L đang tranh chấp ranh giới với ông H có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng từ ông B vào năm 1997, đến năm 1998 thì ông L được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.
  • + Đối với phần đất của ông B đứng tên (Do anh L1 đang quản lý, sử dụng) đang tranh chấp ranh giới với ông H có nguồn gốc là là do ông B nhận chuyển nhượng từ ông H vào năm 1986 khoảng 12 công tầm nhỏ và nhận chuyển nhượng từ bà T4 (Không nhớ chữ họ, lót, năm sinh và địa chỉ) vào năm 1990 khoảng 10 công, đến năm 1994 thì ông B được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.
  • + Các đương sự cũng thống nhất trình bày giữa các thửa đất của mình thì không xác định được ranh giới cụ thể.

Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự vì được các bên đương sự thống nhất thừa nhận.

- Về diện tích đất:

  • + Đối với phần đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông H và ông M có diện tích tới ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy tổng cộng là 1.250,5m², trong phạm vi các mốc M1, M2, M23, R2 (Đường ranh do ông H xác định) và mốc M11, M24, M3, R3 (Đường ranh do ông M xác định) theo phụ lục sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T. Đối với phần đất của ông H là thửa số 175 và 280, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 24.387m² và 3.022m², diện tích đo đạc thực tế do ông H xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 22.932,1m² và 3.226,8m² (Trong đó, phần ông H đang quản lý, sử dụng là 2.305,6m² và phần ông H đã chuyển nhượng cho ông B là 921,2m²). Đối với phần đất của ông M là thửa số 174 và 287, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 15.280m² và 1.093m², diện tích đo đạc thực tế do ông M xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 13.136m² và 1.403,3m². Như vậy, đối với phần đất của ông H so với diện tích được cấp thuộc thửa số 175 thiếu diện tích là 1.454,9m² và thuộc thửa số 280 dư diện tích là 204,8m². Đối với phần đất của ông M so với diện tích được cấp thuộc thửa số 174 thiếu diện tích là 2.143,9m² và thuộc thửa số 287 dư diện tích là 310,3m².

Đồng thời, theo “Công văn số 1361/CNTM-ĐKCG ngày 19/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và ông M thuộc các thửa trên thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế.

  • + Đối với phần đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông H và ông B (Ông L1 đang quản lý, sử dụng) có diện tích tới ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy tổng cộng là 546m², trong phạm vi các mốc M9, M13, M14, M18 (Đường ranh do ông H xác định) và mốc M10, M15, M16, M17 (Đường ranh do ông L1 xác định) theo phụ lục sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T. Đối với phần đất của ông H là thửa số 175 và 280, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 24.387m² và 3.022m², diện tích đo đạc thực tế do ông H xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 22.932,1m² và 3.226,8m² (Trong đó, phần ông H đang quản lý, sử dụng là 2.305,6m² và phần ông H đã chuyển nhượng cho ông B là 921,2m²). Đối với phần đất của ông B là thửa số 176, 279 và 861, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 15.646m², 1.011m² và 4.887m², diện tích đo đạc thực tế do ông L1 xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 2.683m², 1.223,8m² và 3.686,9m². Như vậy, đối với phần đất của ông H so với diện tích được cấp thuộc thửa số 175 thiếu diện tích là 1.454,9m² và thuộc thửa số 280 dư diện tích là 204,8m². Đối với phần đất của ông L1 đang quản lý, sử dụng thì theo phụ lục sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện diện tích 921,2m² thuộc 01 phần thửa số 280 và diện tích 1.804,6m² thuộc 01 phần thửa số 175. Tuy nhiên, ông H và ông L1 đều thống nhất trình bày phần đất này nằm trong tổng diện tích mà ông H đã chuyển nhượng ông B nên diện tích các thửa đất của ông B đến đường ranh mà hai bên đang tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định 02 phần đất trên nằm trong diện tích các thửa số 176, 279 và 861 do ông B đứng tên trên giấy chứng quyền sử dụng đất. Như vậy, tổng diện tích đo đạc thực tế phần đất ông L1 đang quản lý, sử dụng là 10.319,5m².

Đồng thời, theo “Công văn số 1361/CNTM-ĐKCG ngày 19/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và ông B thuộc các thửa trên (Trừ thửa số 861 của ông B có đo đạc) thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế.

  • + Đối với phần đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông H và ông L có diện tích tới ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy tổng cộng là 737,7m², trong phạm vi các mốc M21, M5, R5 (Đường ranh do ông H xác định) và mốc M22, M4, R4 (Đường ranh do ông L xác định) theo phụ lục sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T. Đối với phần đất của ông H là thửa số 175 và 280, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 24.387m² và 3.022m², diện tích đo đạc thực tế do ông H xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 22.932,1m² và 3.226,8m² (Trong đó, phần ông H đang quản lý, sử dụng là 2.305,6m² và phần ông H đã chuyển nhượng cho ông B là 921,2m²). Đối với phần đất của ông L là thửa số 277, 278 và 724, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 17.243m², 554m² và 10.000m2, diện tích đo đạc thực tế do ông L xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp) tới đường ranh cấp giấy theo bản đồ chính quy là 15.814,3m², 1.337,7m² và 8.724,9m². Như vậy, đối với phần đất của ông H so với diện tích được cấp thuộc thửa số 175 thiếu diện tích là 1.454,9m² và thuộc thửa số 280 dư diện tích là 204,8m². Đối với phần đất của ông L so với diện tích được cấp thuộc thửa số 277 dư diện tích là 571,3m², thuộc thửa số 278 dư diện tích là 783,7m², thuộc thửa số 724 thiếu diện tích là 1.275,1m². Đồng thời, theo phụ lục sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện diện tích 489m² (Do ông L đang quản lý, sử dụng) thuộc 01 phần thửa số 175 và diện tích 173,1m² (Do ông H đang quản lý, sử dụng) thuộc 01 phần thửa số 724. Tuy nhiên, ông H và ông L đều thống nhất trình bày phần đất của mình chỉ đến đường ranh mà hai bên đang tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định diện tích 489m² nằm trong thửa số 724 của ông L, còn diện tích 173,1m² nằm trong thửa số 175 của ông H.

Đồng thời, theo “Công văn số 1361/CNTM-ĐKCG ngày 19/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H thuộc các thửa trên thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế, còn khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L thuộc các thửa trên (Trừ thửa số 724 có đo đạc) thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế.

- Về hiện trạng:

  • + Trên đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông M thì các đương sự thống nhất trình bày có các cây do ông H trồng gồm: 02 cây xoài, 01 cây sộp, 03 cây dừa, 05 cây mít T6 và 02 cây bạch đàn, ngoài ra không còn cây gì khác. Đồng thời, không có kiến trúc gì.
  • + Trên đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông B thì các đương sự thống nhất trình bày có các cây gồm: 02 cây cà na (01 cây đã bị đón chỉ còn gốc) và 01 cây gáo, ngoài ra không còn cây gì khác. Ông H trình bày 02 cây cà na là do tự mộc, còn cây gáo là do phía gia đình ông H trồng. Ông L1 trình bày 02 cây cà na do tự mộc, còn câu gáo do ông B trồng. Đồng thời, không có kiến trúc gì.
  • + Trên đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông L thì các đương sự thống nhất trình bày có các cây do ông L trồng gồm: 05 cây mít T6, ngoài ra không còn cây gì khác. Đồng thời, không có kiến trúc gì.
  • - Đối với đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông M, xét thấy: Các thửa đất của ông H và ông M thì giữa các thửa đất này từ trước đến nay không có xác định ranh cụ thể. Đồng thời, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế. Ngoài ra, phần đất của ông H có 01 phần đã chuyển nhượng cho ông B, ông B chuyển nhượng phần đất này lại cho ông C (Khoảng 3.000m² chưa sang tên), rồi ông C lại đổi phần đất này lại cho ông H. Tuy nhiên, ông H, ông C và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết phần đất này. Do đó, không thể căn cứ vào số liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên để làm căn cứ giải quyết mà chỉ có thể căn cứ vào hiện trạng sử dụng của các đương sự. Xét đầu ngoài đường ranh giáp lộ đá có các cây do phía ông H trồng, trong đó có 01 cây bạch đàn nằm ở vị trí xa nhất so với các cây còn lại hướng về phần đất của ông M, còn đầu trong giáp kênh 500 các cây mít T6 do phía ông H trồng, trong đó có 01 cây nằm ở vị trí xa nhất so với các cây còn lại hướng về phần đất của ông M. Đối với các cây này khi ông H trồng thì ông M không có tranh chấp gì chứng tỏ ông M thừa nhận phần đất của ông H đến vị trí này. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí cây bạch đàn và cây mít Thái trên, từ hai vị trí này tạo thành đường thẳng hướng về đầu ngoài của đường ranh đang tranh chấp tạo thành mốc mới đặt tên M1᾿ (Đoạn thẳng từ mốc M1 đến M1᾿ có chiều dài là 1,1m và đoạn thẳng từ mốc M1᾿ đến M11 có chiều dài là 1,93m) và hướng về đầu trong hậu của đường ranh đang tranh chấp tạo thành mốc mới đặt tên R2 (Đoạn thẳng từ mốc R2 đến R2' có chiều dài là 0,42m và đoạn thẳng từ mốc R2' đến R3 có chiều dài là 2,04m). Do đó, nay Hội đồng xét xử xác định đường ranh giữa các thửa đất này là đoạn thẳng nối từ mốc M1᾽ kéo đến mốc R2'.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần nhận. Như vậy, phần yêu cầu của ông H được chấp nhận có diện tích tổng cộng là 863,7m² và phần không được chấp nhận là 494,2m². Ngoài ra, các tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

  • - Đối với đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông B (Ông L1 đang quản lý, sử dụng), xét thấy: Đối với phần đất của ông H thì giữa các thửa đất này từ trước đến nay không có xác định ranh cụ thể. Đồng thời, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế. Đối với phần đất của ông B khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 176 và 279 thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế, còn thửa số 861 thì có đo đạc khảo sát đất thực tế. Tuy nhiên, giữa thửa số 861 với thửa số 176 và 279 thì từ trước đến nay không có xác định ranh cụ thể. Ngoài ra, phần đất của ông H có 01 phần đã chuyển nhượng cho ông B, ông B chuyển nhượng phần đất này lại cho ông C (Khoảng 3.000m² chưa sang tên), rồi ông C lại đổi phần đất này lại cho ông H. Tuy nhiên, ông H, ông C và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết phần đất này. Do đó, không thể căn cứ vào số liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên để làm căn cứ giải quyết mà chỉ có thể căn cứ vào hiện trạng sử dụng của các đương sự. Xét đầu trong hậu giáp phần đất mà ông C đổi với ông H thì hiện trạng không có cây trồng hoặc kiến trúc gì nhưng có 01 bờ đê. Ông H không thống nhất bờ đê này nên ông H xác định đường ranh qua vị trí bờ đê này lọt vào phần đất ruộng của ông B. Tuy nhiên, ông H không có chứng cứ gì chứng minh, còn ông L1 xác định đường ranh nằm đúng vị trí bờ đê này và ông H, anh L1 đều thừa nhận bờ đê này đã có từ lâu. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí bờ đê này. Đồng thời, đường ranh mà hai bên đang tranh chấp có hình chữ L (Tại các mốc M13, M14, M15, M16), trong phạm vi các mốc này thì có 02 cây cà na (Hiện nay chỉ còn 01 cây, 01 cây đã bị đón chỉ còn gốc) và 01 cây gáo. Đối với các cây này thì ông H và ông L1 không ai có chứng cứ chứng minh là do mình trồng nhưng thực tế hai bên đang sử dụng đến vị trí các cây này. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí các cây trên và từ mốc M16 (Hướng về mốc M17) đến vị trí các cây này là 0,63m tạo thành 01 mốc mới đặt tên M16 (Đoạn thẳng từ mốc M16 đến M16᾿ có chiều dài là 0,63m). Đối với đầu ngoài đường ranh giáp đường đá thì không có cây trồng hoặc kiến trúc gì. Các đương sự trình bày trước đây có 01 hàng cây tràm và 01 đường dẫn nước. Hiện nay, hàng tràm đã bị đốn chỉ còn gốc, 01 đường dẫn nước và 01 đường dẫn nước nhỏ. Ông L1 thừa nhận các cây tràm này do ông H trồng và đã đốn chỉ còn gốc, chứng tỏ phần đất của ông H đến vị trí các cây tràm này. Tuy nhiên, hiện nay không thể xác định vị trí gốc cây tràm nằm xa nhất hướng về phần đất của ông B do các gốc này nằm dưới nước nhưng vị trí các gốc tràm này cũng tương ứng với nằm gần vị trí chính giữa đường ranh mà hai bên đã xác định. Do đó, nay Hội đồng xét xử xác định đường ranh giữa các thửa đất này là đoạn thẳng nối từ mốc M17 kéo đến mốc M16', từ mốc M16᾿ kéo ngang đến mốc mới là M15᾿ (Đoạn thẳng từ mốc M15᾿ đến đoạn thẳng từ mốc M9 - M13 có chiều dài là 0,8m), từ mốc M15᾿ kéo về đầu ngoài giáp đường đá của đường ranh đang tranh chấp tạo thành mốc mới đặt tên M10'(Đoạn thẳng từ mốc M10 đến M10' có chiều dài là 0,67m và đoạn thẳng từ mốc M10' đến M9 có chiều dài là 0,7m).

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần nhận. Như vậy, phần yêu cầu của ông H được chấp nhận có diện tích tổng cộng là 28,5m² và phần không được chấp nhận là 517,5m². Ngoài ra, các tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

  • - Đối với đường ranh đang tranh chấp giữa ông H và ông L, xét thấy: Đối với phần đất của ông H thì giữa các thửa đất này từ trước đến nay không có xác định ranh cụ thể. Đồng thời, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế. Đối với phần đất của ông L khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 277 và 278 thì không có đo đạc khảo sát đất thực tế, còn thửa số 724 thì có đo đạc khảo sát đất thực tế. Tuy nhiên, giữa thửa số 724 với thửa số 277 và 278 thì từ trước đến nay không có xác định ranh cụ thể. Ngoài ra, phần đất của ông H có 01 phần đã chuyển nhượng cho ông B, ông B chuyển nhượng phần đất này lại cho ông C (Khoảng 3.000m² chưa sang tên), rồi ông C lại đổi phần đất này lại cho ông H. Tuy nhiên, ông H, ông C và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết phần đất này. Do đó, không thể căn cứ vào số liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên để làm căn cứ giải quyết mà chỉ có thể căn cứ vào hiện trạng sử dụng của các đương sự. Xét đầu trong hậu đường ranh giáp kênh 500 có các cây mít T6 do phía ông L trồng, trong đó có 01 cây nằm ở vị trí xa nhất so với các cây còn lại hướng về phần đất của ông H gần giáp vị trí bờ đê hiện tại. Đối với các cây này khi ông L trồng thì ông H không có tranh chấp gì chứng tỏ ông H thừa nhận phần đất của ông L đến vị trí này. Đồng thời, trên đường ranh đang tranh chấp có 01 bờ đê. Ông H không thống nhất bờ đê này nên ông H xác định đường ranh qua vị trí bờ đê này lọt vào phần đất ruộng của ông L. Tuy nhiên, ông H không có chứng cứ gì chứng minh, còn ông L xác định đường ranh nằm đúng vị trí bờ đê này. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí bờ đê này. Do đó, nay Hội đồng xét xử xác định đường ranh giữa các thửa đất này là đoạn thẳng nối từ mốc M22 kéo đến mốc M4 và R4.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông H là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Ngoài ra, các tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

[5] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông V1 thì các đương sự thống nhất tự giải quyết bên ngoài không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng 01 vụ án khác.

[6] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B với ông C và hợp đồng đổi quyền sử dụng đất giữa ông H với ông C thì các đương sự thống nhất tự giải quyết bên ngoài không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng 01 vụ án khác.

[7] Đối với ông L1, ông L và bà H6 trong quá trình Tòa án giải quyết có yêu cầu Tòa án xác minh một số người làm chứng vì những người này biết trên đường ranh giữa ông H và ông L có 01 cây gáo rất to làm ranh nhưng hiện nay ông H đã đốn và nhổ tận gốc cây gáo rồi nên những người này không còn biết gì thêm và nay không yêu cầu Tòa án xác minh những người này nữa. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[8] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[9] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

[10] Về chi phí tố tụng:

  • - Đối với tranh chấp giữa ông H và ông M thì ông H được chấp nhận 01 phần nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ông H phải chịu phần yêu cầu khởi kiện của mình không được chấp nhận, còn ông M phải chịu phần yêu cầu của ông H được chấp nhận, cụ thể: Ông H yêu cầu ông M trả diện tích 1.357,9m² nhưng chỉ được chấp nhận 01 phần với diện tích là 863,7m², nếu tính phần yêu cầu khởi kiện của ông H là 10 phần thì ông H được chấp nhận tương đương 6,5 phần, còn 3,5 phần không được chấp nhận và tổng chi phí trên là 400.000 đồng. Như vậy, ông H phải chịu số tiền là 140.000 đồng và ông M phải chịu số tiền là 260.000 đồng. Đồng thời, do ông H đã tạm ứng trước và đã chi xong nên ông M phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền 260.000 đồng để trả lại cho ông H.
  • - Đối với tranh chấp giữa ông H và ông B thì ông H được chấp nhận 01 phần nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ông H phải chịu phần yêu cầu khởi kiện của mình không được chấp nhận, còn những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B phải chịu phần yêu cầu của ông H được chấp nhận, cụ thể: Ông H yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B trả diện tích 546m² nhưng chỉ được chấp nhận 01 phần với diện tích là 28,5m², nếu tính phần yêu cầu khởi kiện của ông H là 10 phần thì ông H được chấp nhận tương đương 0,5 phần, còn 9,5 phần không được chấp nhận và tổng chi phí trên là 400.000 đồng. Như vậy, ông H phải chịu số tiền là 380.000 đồng và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B phải chịu số tiền là 20.000 đồng. Đồng thời, do ông H đã tạm ứng trước và đã chi xong nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền 20.000 đồng để trả lại cho ông H.
  • - Đối với tranh chấp giữa ông H và ông L thì ông H không được chấp nhận nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ông H phải chịu theo quy định pháp luật và tổng chi phí trên là 400.000 đồng. Đồng thời, ông H đã chi xong. Ngoài ra, ông L không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá.

[11] Về án phí:

  • - Ông H và ông M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H sinh năm 1955 và ông M sinh năm 1963, tính đến nay đã trên 60 tuổi và có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí. Xét thấy, ông H và ông M thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông B sinh năm 1946, tính đến nay đã trên 60 tuổi và ông L1 có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí. Xét thấy, ông B thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đồng thời, ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông L2, ông D1, chị H4, anh V1 và chị M2 là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B nên những người này được kế thừa quyền trên của ông B. Do đó, Hội đồng xét xử xác định ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông L2, ông D1, chị H4, anh V1 và chị M2 thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[12] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét và tiếp tục tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.

- Về đề nghị nội dung giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 100, Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 264, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn H. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Phan Văn H tại thửa số 175 và 280 với đất của ông Trương Văn M tại thửa số 174 và 287 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M1᾿ và mốc R2', đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 14/6/2023 và ngày 10/4/2024; Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023 và ngày 02/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
  2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn H. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Phan Văn H tại thửa số 175 và 280 với đất của ông Bùi Văn B (Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B gồm: Ông Bùi Văn Đ, bà Bùi Thị Kim L3, bà Bùi Thị Kim P, ông Bùi Thanh L1, ông Bùi Văn H3, ông Bùi Văn L2, ông Bùi Văn D1, chị Bùi Thị Ngọc H4, anh Bùi Thanh V và chị Bùi Thị Ngọc M2) tại thửa số 176, 279 và 861 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M10', M15᾿, M16᾿ và mốc M17, đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 14/6/2023 và ngày 10/4/2024; Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023 và ngày 02/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn H. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Phan Văn H tại thửa số 175 và 280 với đất của ông Võ Văn L tại thửa số 277, 278 và 724 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M22, M4 và mốc R4, đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 14/6/2023 và ngày 10/4/2024; Phụ lục sơ đồ đo đạc ngày 12/9/2023 và ngày 02/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
  4. Về chi phí tố tụng:
    • - Ông H phải chịu 920.000 đồng (Chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và ông H đã nộp xong.
    • - Ông M phải chịu 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá. Ông M phải nộp lại số tiền này để trả lại cho ông H.
    • - Ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông L2, ông D1, chị H4, anh V và chị M2 phải liên đới chịu 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá. Ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông L2, ông D1, chị H4, anh V và chị M2 phải liên đới nộp lại số tiền này để trả lại cho ông H.
    • - Ông L không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá.
  5. Về án phí:
    • - Ông H, ông M, ông Đ, bà L3, bà P, ông L1, ông H3, ông L2, ông D1, chị H4, anh V và chị M2 được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKS huyện Tháp Mười;
  • - CCTHADS huyện Tháp Mười;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 52/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger