TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/KDTM- ST
Ngày: 05/6/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền
Bà Tô Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 80/2023/TLST- KDTM ngày 17 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 23/QĐHPT-KDTM ngày 28 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 26/QĐHPT-KDTM ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C2 (V1); địa chỉ: A T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch Hội đồng quản trị; đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP C2; Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị T, ông Đỗ Văn Đ, bà Trần Thị Thanh L; địa chỉ: B P, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. (có mặt bà L)
- Bị đơn: Công ty TNHH C3; Địa chỉ trụ sở chính: Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Mã số doanh nghiệp: 0500444109; Người đại diện theo pháp luật: Ông Triệu Thành C - Giám đốc. vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Đăng S, sinh năm 1977; CMND số [...] do Công an H cấp ngày 10/01/2009. Có mặt
- Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1981; CMND số [...] do Công an H cấp ngày 13/10/2009. Có mặt
- Anh Dương Đăng T2, sinh năm 1999. vắng mặt
- Anh Dương Ngọc Đ1, sinh năm 2002; vắng mặt
Cùng địa chỉ: số nhà B, ngách A, đường Ỷ, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Duy T3, sinh năm 1977; CMND số [...] do C4 cấp ngày 05/04/1995. Vắng mặt
- Bà Nghiêm Thị T4, sinh năm 1977; CMND số [...] do Công an C4 cấp ngày 19/04/1994; vắng mặt
- Anh Nguyễn Minh Đ2, sinh năm 2003; vắng mặt
- Chị Nguyễn Minh T5, sinh năm 2007. vắng mặt
Cùng địa chỉ: số nhà G, đường L, tổ dân phố H, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1969; có mặt
- Anh Triệu Tiến S1, sinh năm 1990; có mặt
- Anh Triệu Tiến T6, sinh năm 1992; có mặt
- Chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1993; có mặt
- Cháu Triệu Thị C1, sinh năm 2015;
- Cháu Triệu Thị D, sinh năm 2018;
(Người đại diện theo pháp luật của cháu C1, cháu D là anh Triệu Tiến S1 và chị Nguyễn Thị T7)
Đều trú tại: số nhà B, đường C (cũ là đường G), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Ngân hàng TMCP C2 trình bày:
Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q1 (Sau đây gọi là VietinBank Quang Trung) và Công ty TNHH C3 đã ký kết hợp đồng tín dụng số 20/2013/HĐTD ngày 16/05/2013. Cụ thể như sau: Hạn mức cho vay: 15.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm tỷ đồng chẵn); Thời hạn duy trì mức cho vay: Đến hết ngày 11/05/2014; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh lâm sản; Thời hạn cho vay: Cụ thể trên từng giấy nhận nợ nhưng tối đa là 07 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng: 12,5%/ năm. Lãi suất lãi quá hạn 50% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Tổng số tiền đã giải ngân là: 5.545.259.437 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ năm trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng).
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, V1 đã nhận thế chấp tài sản sau để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH C3:
- Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 789753 do UBND Thị xã H, tỉnh Hà Tây cấp ngày 20/9/2006 cho hộ ông Dương Đặng S2. Ngày 22/04/2010, hộ ông Đương Đăng S3 đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 102204/HĐTC, có số công chứng 2538, quyền số 02.2010 với V1 tại văn phòng C5-TP Hà Nội để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty TNHH C3. Văn bản sửa đổi hợp đồng thế chấp ngày 10/05/2013. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Phòng tài nguyên và môi trường quận H ngày 06/05/2010.
- Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, Thôn L, xã D, TP H, H (Nay là Thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 771125 do U, tỉnh Hà Tây cấp ngày 04/01/2008 cho ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4. Ngày 18/08/2010, ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4 đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 10253709/HĐTC, có số công chứng 5400, quyền số 03.2010 với V1 tại văn phòng C5-TP Hà Nội để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty TNHH C3. Văn bản sửa đổi hợp đồng thế chấp ngày 10/05/2013. Tài sản bảo đàm đã được đăng ký thế chấp tại Phòng tài nguyên và môi trường Quận H ngày 18/08/2010.
Tại thời điểm ngày 05/05/2014, Công ty TNHH C3 đã để phát sinh nợ quá hạn tại V1. Kể từ khi phát sinh nợ quá hạn, V1 đã nhiều lần thông báo và làm việc với công ty về kế hoạch trả nợ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng nhưng Công ty TNHH C3 không thiện chí, không hợp tác trả nợ.
Tạm tính đến ngày 20/02/2025, Công ty TNHH C3 vẫn còn nợ V1 tổng cộng số tiền là tổng số tiền là: 10.533.435.295đồng. Trong đó nợ gốc: 3.299.927.445đồng. Lãi trong hạn: 4.866.707.210; Lãi quá hạn. 2.366.910.640đồng
Để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng TMCP C2, Ngân hàng TMCP C2 đã gửi đơn khởi kiện Công ty TNHH C3 ra Tòa án nhân dân quận Hà Đông để đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
a) Buộc Công ty TNHH C3 còn phải trả cho Ngân hàng TMCP C2 toàn bộ số tiền theo hợp đồng tín dụng số 20/2013/HĐTD ngày 16/05/2013, tạm tính tới ngày 20/2/2025 là tổng số tiền là: 10.533.435.295 đồng. Trong đó nợ gốc: 3.299.927.445đồng. Lãi trong hạn: 4.866.707.210; Lãi quá hạn. 2.366.910.640đồng
Và toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 21/02/2025 do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi Công ty TNHH C3 tất toán toàn bộ dư nợ.
b) Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty TNHH C3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP C2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ gồm:
- Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 789753 do UBND Thị xã H, tỉnh Hà Tây cấp ngày 20/9/2006 cho hộ ông Dương Đặng S2. Ngày 22/04/2010, hộ ông Đương Đăng S3 đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 102204/HĐTC, có số công chứng 2538, quyền số 02.2010 với V1 tại văn phòng C5-TP Hà Nội để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty TNHH C3. Văn bản sửa đổi hợp đồng thế chấp ngày 10/05/2013. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Phòng tài nguyên và môi trường quận H ngày 06/05/2010.
- Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, Thôn L, xã D, TP H, H (Nay là Thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 771125 do U, tỉnh Hà Tây cấp ngày 04/01/2008 cho ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4. Ngày 18/08/2010, ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4 đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 10253709/HĐTC, có số công chứng 5400, quyền số 03.2010 với V1 tại văn phòng C5-TP Hà Nội để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty TNHH C3. Văn bản sửa đổi hợp đồng thế chấp ngày 10/05/2013. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Phòng tài nguyên và môi trường quận H ngày 18/08/2010.
c) Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH C3 phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C2 cho đến khi hết nợ.
d) Mọi chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng, Công ty TNHH C3 có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C2.
Bị đơn Công ty TNHH C3 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy T3, bà Nghiêm Thị T4, anh Nguyễn Minh Đ2, chị Nguyễn Minh T5 không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản, tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông S3, bà T1, anh T2 trình bày: Về việc ngân hàng C2 đòi nợ Công ty C3 có ý kiến sau: Năm 2013 gia đình tôi cho anh T8 Thành Công là giám đốc Công ty C3 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 789753 do UBND Thị xã H, tỉnh Hà Tây cấp ngày 20/9/2006 cho hộ ông Dương Đặng S2 để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng TMCP C2 vay vốn để làm ăn. Do làm ăn thua lỗ anh C không có khả năng trả nợ và bỏ trốn. Nay chúng tôi nhận thấy cần có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng nhưng thấy khoản nợ gốc và lãi quá lớn mà kinh tế gia đình rất khó khăn nên gia đình xin trả gốc theo tài sản đảm bảo và một phần lãi. Hiện nay cả gia đình tôi đang ăn ở sinh sống tại thửa đất nói trên. Theo thông báo của ngân hàng thì tính đến ngày 20 tháng 2 năm 2025 Công ty C3 còn nợ Ngân hàng C2 tổng số tiền là: 10.533.435.295đồng. Trong đó nợ gốc: 3.299.927.445 đồng. Lãi trong hạn: 4.866.707.210; Lãi quá hạn. 2.366.910.640đồng. Đề nghị Ngân hàng cho biết số nợ gốc và lãi của nghĩa vụ trả nợ của tài sản bảo đảm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V, anh T6 trình bày: Về việc Về việc Ngân hàng C2 đòi nợ Công ty C3 có ý kiến sau: Hiện nay tôi và gia đình đang sinh sống tại thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, Thôn L, xã D, TP H, H (Nay là Thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 771125 do U, tỉnh Hà Tây cấp ngày 04/01/2008 cho ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4. Năm 2008 vợ chồng tôi có mua lại thửa đất trên từ anh C (Công ty C3). Khi mua bán có làm giấy viết tay, đến năm 2022 chống tôi mất nên bị thất lạc giấy tờ. Theo thông báo của ngân hàng thì tính đến ngày 20 tháng 2 năm 2025 Công ty C3 còn nợ Ngân hàng C2 tổng số tiền là: 10.533.435.295 đồng. Trong đó nợ gốc: 3.299.927.445đồng. Lãi trong hạn: 4.866.707.210; Lãi quá hạn. 2.366.910.640đồng. Chúng tôi được biết hiện nay thửa đất chúng tôi đang ở là anh C đang thế chấp ngân hàng. Anh C hiện nay đã bỏ trốn Nay ngân hàng khởi kiện công ty C3 thì gia đình tôi có thiện trí muốn giải quyết trả nợ cho Ngân hàng mong muốn tạo điều kiện miễn giảm lãi để gia đình thu xếp thanh toán phần nợ gốc đối với nghĩa vụ do tài sản đảm bảo của gia đình tôi. Đề nghị Ngân hàng cho biết số nợ gốc và lãi của nghĩa vụ trả nợ của tài sản bảo đảm.
Theo kết quả xác minh do Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cung cấp: Công ty TNHH C3; mã số doanh nghiệp E; Giấy chứng nhận ĐKKD lần đầu ngày 01/12/2003, thay đổi lần thứ 5 ngày 23/10/2012; địa chỉ: thôn L, xã D, huyện H, tỉnh Hà Tây (nay là Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội); Phòng đăng ký kinh doanh đã ra quyết định thu hồi số *739532/17* ngày 14/12/2017 về thu hồi Giấy chứng nhận Đăng ký. Đến thời điểm hiện tại, doanh nghiệp trên chưa đăng ký thủ tục giải thể doanh nghiệp.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH C3 ông Triệu Thành C không ăn ở sinh sống tại địa chỉ đăng ký thường trú.
Ngày 10/12/2024, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là:
Thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, thôn L, xã D, H, H (Nay là số nhà B, đường C (đường G cũ), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội). Thửa đất có vị trí, tứ cận phù hợp như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện trạng vẫn giữ nguyên như thời điểm thế chấp, trên đất có 01 nhà 01 tầng mái lợp pro xi măng, 01 gác xép. Hiện có bà Trần Thị V, anh Triệu Tiến S1, anh Triệu Tiến T6, chị Nguyễn Thị T7, cháu Triệu Thị C1, cháu Triệu Thị D ăn ở, sinh sống tại nhà đất này.
Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là số nhà B, ngách A đường Ỷ, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội). hiện trạng vẫn giữ nguyên như thời điểm thế chấp, trên đất có 02 nhà 1 tầng đồ mái bê tông (một nhà ở và một nhà công trình phụ), trước nhà có khoảng sân lợp tôn. Hiện có ông Dương Đăng S, bà Đoàn Thị T1, anh Dương Ngọc Đ1, anh Dương Đăng T2 ăn ở, sinh sống tại nhà đất này.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty TNHH C3 trả ngay toàn bộ nợ gốc, lãi, lãi quá hạn cho Ngân hàng, tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/06/2025 là 10.670.781.663 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ sáu trăm bảy mươi triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng), đồng thời thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong các Hợp đồng, giấy nhận nợ đã ký kết. Và sau ngày 05/06/2025, Công ty TNHH C3 còn phải chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng, giấy nhận nợ đã ký kết.
Buộc Công ty TNHH C3 phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh có liên quan.
Trong trường hợp Công ty TNHH C3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án tuyên cho Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Dương Đăng S, bà Đoàn Thị T1, Trần Thị V, anh Triệu Tiến S1, anh Triệu Tiến T6, chị Nguyễn Thị T7 đề nghị ngân hàng tạo điều kiện xem xét, giảm lãi suất để các gia đình có thể làm thủ tục giải chấp đối với các tài sản bảo đảm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Yêu cầu khởi kiện là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn tính trên nợ gốc) theo hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ hai bên đã ký kết. Trường hợp bị đơn không trả được nợ thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên toà Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa hai tổ chức đều có mục đích lợi nhuận nên căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết sơ thẩm.
Vụ án được đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q1 (Sau đây gọi là VietinBank Quang Trung) và Công ty TNHH C3 đã ký kết hợp đồng tín dụng số 20/2013/HĐTD ngày 16/05/2013. Cụ thể như sau: Hạn mức cho vay: 15.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm tỷ đồng chẵn); Thời hạn duy trì mức cho vay: Đến hết ngày 11/05/2014; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh lâm sản; Thời hạn cho vay: Cụ thể trên từng giấy nhận nợ nhưng tối đa là 07 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng: 12,5%/ năm. Lãi suất lãi quá hạn 50% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Tổng số tiền đã giải ngân là: 5.545.259.437 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ năm trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng).
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, V1 đã nhận thế chấp tài sản sau để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH C3: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là số nhà B, ngách A đường Ý, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội); Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, thôn L, xã D, H, H (Nay là số nhà B, đường C (đường G cũ), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội); Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 1056, tờ bản đồ số 01, thôn L, xã D, TP H, H (Quá trình thực hiện hợp đồng các bên đã tiến hành giải chấp đối với tài sản này).
Từ ngày 05/05/2014, Công ty TNHH C3 đã để phát sinh nợ quá hạn tại V1. Tính đến ngày 05/06/2025, Công ty TNHH C3 vẫn còn nợ V1 tổng cộng số tiền là tổng số tiền là: 10.670.781.663 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ sáu trăm bảy mươi triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc: 3.299.927.445đồng. Lãi trong hạn: 4.958.198.122 đồng; Lãi quá hạn 2.412.656.096 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện ngân hàng đã xuất trình bản tính gốc, lãi đối với từng khoản vay đến thời điểm xét xử.
Xét thấy, Hợp đồng tín dụng được các bên ký kết theo đúng quy định pháp luật; việc tính lãi trong hạn, quá hạn trên nợ gốc như yêu cầu của Ngân hàng đối với Công ty TNHH C3 phù hợp quy định pháp luật, phù hợp với hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ, các thỏa thuận đã ký kết giữa ngân hàng với Công ty TNHH C3. Công ty TNHH C3 chưa làm thủ tục giải thể nên phải chịu nghĩa vụ thanh toán nợ theo yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2] Xét thấy tất cả các tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán còn lại của Công ty TNHH C3 đều được lập hợp đồng thế chấp có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Việc bà V, anh T6 trình bày có mua lại thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, Thôn L, xã D, TP H, H từ ông Triệu Thành C có làm giấy viết tay, nhưng bị thất lạc giấy tờ là không có cơ sở xem xét.
Do đó, trường hợp Công ty TNHH C3 không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ dư nợ, bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay theo hợp đồng thế chấp đã ký, nguyên đơn được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ như sau:
Tài sản 1: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là số nhà B, ngách A đường Ý, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội) được thế chấp bảo đảm cho khoản tín dụng tối đa là 2.400.000.000 đồng. (Tương đương 59,26%)
Tài sản 2: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, thôn L, xã D, H, H (Nay là số nhà B, đường C (đường G cũ), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội) được thế chấp bảo đảm cho khoản tín dụng tối đa là 1.650.000.000 đồng. (Tương đương 40,74%)
Do đó:
- Trường hợp phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là số nhà B, ngách A đường Ỷ, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội). Ngân hàng TMCP C2 (V1) được thu hồi 59,26% khoản nợ của Công ty TNHH C3. (Tạm tính đến ngày 05/06/2025 là: 10.670.781.663 đồng x 59,26% = 6.323.505.213 đồng.
- Trường hợp phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, thôn L, xã D, H, H (Nay là số nhà B, đường C (đường G cũ), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội). Ngân hàng TMCP C2 (V1) được thu hồi là 40,74% khoản nợ của Công ty TNHH C3. (Tạm tính đến ngày 19/5/2025 là: 10.670.781.663 đồng x 40,74% = 4.347.276.449 đồng.
[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Bị đơn là Công ty TNHH C3 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 275, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng: Khoản 2 Điều 100; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng 2024;
Áp dụng Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016 của ủy ban T9 ngày 30/12/2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C2 về việc yêu cầu Công ty TNHH C3 thanh toán trả toàn bộ tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 20/2013/HĐTD ngày 16/05/2013.
2. Buộc Công ty TNHH C3 phải thanh toán trả nợ cho Ngân hàng TMCP C2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/06/2025 là: 10.670.781.663 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ sáu trăm bảy mươi triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng); trong đó nợ gốc là 3.299.927.445 đồng, nợ lãi (trong hạn và quá hạn) là 7.370.854.218 đồng.
Kể ngày 06/06/2025 Công ty TNHH C3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng/Giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3. Trường hợp Công ty TNHH C3 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ cho Ngân hàng TMCP C2 thì Ngân hàng TMCP C2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật để thu hồi nợ như sau:
3.1. Phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 04, Xóm T, thôn Ỷ, xã D, Thị Xã H, tỉnh Hà Tây (Nay là số nhà B, ngách A đường Ỷ, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 789753 do UBND Thị xã H, tỉnh Hà Tây cấp ngày 20/9/2006 cho hộ ông Dương Đăng S để thu hồi 59,26% khoản nợ của Công ty TNHH C3. Tạm tính đến ngày 05/06/2025 là: 6.323.505.213 đồng (Sáu tỷ ba trăm hai mươi ba triệu năm trăm linh lăm nghìn hai trăm mười ba đồng).
3.2. Phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số L12, tờ bản đồ số 00, thôn L, xã D, H, H (Nay là số nhà B, đường C (đường G cũ), tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 771125 do U, tỉnh Hà Tây cấp ngày 04/01/2008 cho ông Nguyễn Duy T3 và bà Nghiêm Thị T4 để thu hồi 40,74% khoản nợ của Công ty TNHH C3. Tạm tính đến ngày 05/06/2025 là: 4.347.276.449 đồng (Bốn tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm bốn mươi chín đồng).
4. Trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm thì các cá nhân, doanh nghiệp sinh sống, hoạt động trên tài sản thế chấp dưới mọi hình thức phải chuyển dọn đi để đảm bảo việc thi hành án.
5. Trường hợp Công ty TNHH C3 trả được toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP C2 có trách nhiệm trả lại giấy tờ nhà đất đã thế chấp và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm, số tiền phát mại không đủ thanh toán thì Công ty TNHH C3 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP C2 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.
Trường hợp số tiền phát mại tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn số tiền Công ty TNHH C3 còn nợ ngân hàng thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản vay được trả cho người thế chấp tài sản.
7. Về án phí:
- Công ty TNHH C3 phải nộp 118.670.781 đồng (Một trăm mười tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Trả lại Ngân hàng TMCP C2 số tiền tạm ứng án phí 58.272.000đồng (bằng chữ: Năm mươi tám triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014624 ngày 17/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
8. Án xử công khai sơ thẩm: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Văn |
Bản án số 52/2025/KDTM- ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2025/KDTM- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
