Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HSST

Ngày: 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Tốt

2/ Ông Nguyễn Văn Quản

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đô – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/HSST-QĐ ngày 10/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Đoàn Dương B; Giới tính: Nam; Sinh năm 1956; Tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: 34/45, Nguyễn Gia T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Đoàn Văn Đ (chết); Mẹ: Dương Thị X (chết); hoàn cảnh gia đình: Vợ tên Lê Thị Ngọc H; có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  1. Ngày 20/01/1984, bị Công an tỉnh A bắt do có hành vi “Giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội”, ngày 22/5/1984 Công an tỉnh A lập danh chỉ bản số 8585 (BL332).
  2. Ngày 23/01/1985, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 25/QĐUB bắt buộc giáo dục lao động tập trung thời gian 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” (Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Thành phố H không lưu trữ quyết định (BL 330).
  3. Ngày 10/8/1987, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 697/QĐUB bắt buộc giáo dục lao động tập trung về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” thời hạn 24 tháng (BL 300).
  4. Ngày 23/4/1994, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” theo bản sán số 72/HSST. Ngày 21/6/1994, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ xử y án sơ thẩm theo bản án phúc thẩm số 48/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/1994. Qua xác minh không tìm thấy thông tin Đoàn Dương B nộp án phí (BL 328, 329).
  5. Ngày 22/9/2004, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 91/HSST.
  6. Ngày 25/01/2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 04 năm 6 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/HSST. Ngày 09/5/2007, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử y án sơ thẩm theo bản án phúc thẩm số 230/HSPT và tổng hợp hình phạt của bản án số 91/HSST, buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 6 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2010 (BL 319).
  7. Ngày 31/7/2012, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 83/HSST.
  8. Ngày 10/01/2014, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 08/HSST và tổng hợp hình phạt của bản án số 83/HSST, buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2018. Thi hành xong phần án phí và nộp phạt ngày 25/9/2015 và ngày 28/3/2018 (BL 296, 298).

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 (Bl 153; 155; 157) - (Có mặt).

2. Nguyễn H1, Giới tính: N; Sinh năm: 1970; Tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: 8 C, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định. Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: N (chết); Mẹ: Đặng Thị D; hoàn cảnh gia đình: có Vợ tên Nguyễn Thị Kim C, có 01 con sinh năm 1997; Tiền án, Tiền sự: Không

Nhân Thân:

  1. Ngày 13/12/1999, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 489/HSST. Đã chấp hành xong và thi hành xong án phí hình sự ngày 11/7/2000 (BL 268a).
  2. Ngày 25/01/2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/HSST. Ngày 09/5/2007, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử y án sơ thẩm theo bản án phúc thẩm số 230/HSPT. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2009. Chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm ngày 30/5/2008 (BL297).

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 (BL 154; 156; 158) - (có mặt).

*Người bị hại: Chị Ngô Phùng Thảo L, sinh năm 2005
HKTT: 14/28, đường H, khu phố B, phường H, Quận A., Tp . Hồ Chí Minh- (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Đoàn Dương B và Nguyễn H1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 17 giờ ngày 09/4/2024, sau khi đi nhậu về, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 55Y1-3841 chở Bông lưu thông trên đường N thuộc phường H, Quận A. Khi đi ngang qua cửa hàng bán đàn địa chỉ số B đường N, Khu phố A, phường H, Quận A thì B và H1 nhìn thấy bên trong cửa hàng có mình chị Ngô Phùng Thảo L là nhân viên cửa hàng nên H1 điều khiển xe mô tô chở B quay lại, H1 đi vào bên trong cửa hàng còn B đứng bên ngoài cửa hàng đợi. Sau đó B cũng đi vào bên trong cửa hàng đứng nói chuyện với L đánh lạc hướng, để H1 lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air để trên quầy thu ngân cất giấu vào bên trong áo phía sau lưng, rồi cả hai cùng đi ra ngoài tẩu thoát.

Sau đó B và H1 mang máy tính xách tay trộm cắp được đến trước địa chỉ số A, đường L, Phường G, Quận A, H1 bán máy tính xách tay trộm cắp được cho người đàn ông (chưa rõ lai lịch) được số tiền 2.000.000 đồng. H1 chia cho B số tiền 1.000.000 đồng, số tiền trên B và H1 đã giao nộp cho Cơ quan Công an.

Qua điều tra truy xét, ngày 12/4/2024, Cơ quan điều tra Công an Q mời B và H1 về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn H1 và Đoàn Dương B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra (BL 09-24, 199-209).

Bản cáo trạng 29/CT-VKS.Q12, ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Đoàn Dương B và Nguyễn H1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đoàn Dương B và Nguyễn H1 khai nhận hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air của chị Ngô Phùng Thảo L rồi tẩu thoát. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của của người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Người bị hại trình bày: Trước khi đưa vụ án ra xét xử, gia đình bị cáo Nguyễn H1 đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại và người bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1. Đối với bị cáo B, chị L yêu cầu bị cáo Đoàn Dương B bồi thường số tiền 9.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Đoàn Dương B và Nguyễn H1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo Đoàn Dương B và Nguyễn H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đoàn Dương B và Nguyễn H1 không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Do lười lao động, cần tiền tiêu xài. Khoảng 17 giờ ngày 09/4/2024, tại cửa hàng bán Đ1, địa chỉ số B đường N, Khu phố A, phường H, Quận A. Nguyễn H1 và Đoàn Dương B đã cùng ý chí thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air của chị Ngô Phùng Thảo L... rồi tẩu thoát.

Hành vi nêu trên của Đoàn Dương B và Nguyễn H1 đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự

Về trách nhiệm hình sự:

Tại Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air M1 256Gb Sevel, số I: YQ6L7, trị giá 15.500.000 đồng (bút lục 189-190).

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự truy tố Đoàn Dương B và Nguyễn H1 là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội

Hành vi nêu trên của Đoàn Dương B và Nguyễn H1 là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu:

Bị cáo Đoàn Dương B, năm 1984, bị Công an tỉnh A bắt do có hành vi “Giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội”. Năm 1985, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa đi bắt buộc giáo dục lao động tập trung về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” thời hạn 24 tháng. Năm 1987, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa đi bắt buộc giáo dục lao động tập trung về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” thời hạn 24 tháng. Năm 1994, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Năm 2004, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 04 năm 6 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 6 tháng tù. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2014, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt 03 năm tù buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù.

Bị cáo Nguyễn H1, năm 1999, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Năm 2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Các bị cáo đã được đưa đi giáo dục nhiều lần, trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo H1 động viên gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại được người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt ..... nên xem xét cho bị cáo Đoàn Dương B được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Trách nhiệm bồi thường dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, chị Ngô Phùng Thảo L yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (mỗi bị cáo phải bồi thường 10.000.000 đồng- BL 25, 218). Bị cáo H1 đã bồi thường xong, Tại phiên tòa bị cáo B đồng ý bồi thường.

Vật chứng của vụ án:

  • Đối với Tiền ngân hàng N1: 2.000.000 đồng do các bị cáo B và H1 nộp lại. Do vậy cần hoàn trả lại cho người bị hại và khấu trừ vào số tiền các bị cáo phải bồi thường.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 55Y1-3841, số máy: JC43E5029405, số khung: RLHJC4321AY503684. Qua xác minh, xe mô tô do ông Phạm Văn X1 đứng tên đăng ký, ông X1 khai đã bán xe mô tô này cho người tên D1 (không rõ lai lịch). Nguyễn H1 khai xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Kim C (vợ cũ của H1) mua của người khác, không làm thủ tục sang tên, sau đó giao xe cho H1 sử dụng. Qua xác minh, bà C không có cư trú tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả (BL 217).

Do vậy, cần giao Cơ quqan thi hành án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nêu trên. Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

  • Đối với 01 (một) áo sơ mi sọc caro màu trắng, quần dài vải màu đen, đôi dép cao su màu đen, nón lưỡi trai màu trắng, nón bảo hiểm màu xám (thu giữ của Đoàn Dương B). 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen, quần jean dài màu xanh, đôi dép cao su màu đen, nón bảo hiểm màu vàng trắng (thu giữ của Nguyễn H1). Cần tịch thu tiêu hủy
  • Đối với người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đã mua máy tính xách tay hiệu Macbook Air do H1 và B trộm cắp đem bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra làm rõ đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đoàn Dương BNguyễn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Xử phạt: Bị cáo Đoàn Dương B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

2/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi sọc caro màu trắng, quần dài vải màu đen, đôi dép cao su màu đen, nón lưỡi trai màu trắng, nón bảo hiểm màu xám. 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen, quần jean dài màu xanh, đôi dép cao su màu đen, nón bảo hiểm màu vàng trắng.

Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận A: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 55Y1-3841, số máy: JC43E5029405, số khung: RLHJC4321AY503684 (xe đã qua sử dụng). Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Hoàn trả cho chị Ngô Phùng Thảo L: Tiền ngân hàng N1: 2.000.000 đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc bị cáo Đoàn Dương B phải bồi thường số tiền 9.000.000 đồng cho người bị hại chị Ngô Phùng Thảo L.

Kể từ người bị hại có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu bị cáo B chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi chậm trả tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đoàn Dương B thuộc người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 450.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - VKSND Quận 12; (02)
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - THADS Quận 12; (02)
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01)
  • - VPCQCSĐT CA TP. HCM (PC01); (02)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (02)
  • - Bị cáo; (02)
  • - Người tham gia tố tụng khác;(01)
  • - Lưu hồ sơ vụ án. T 25. (05)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Văn Nhất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 52/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Dương B và Nguyễn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger