Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 6 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức và ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Tấn H, sinh ngày 22/8/2007. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn X, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024, đến ngày 06/01/2025 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Tấn H:

  1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Bùi Văn X, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tấn H: Bà Lê Hồ Bích H2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).

Địa chỉ: số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị H3, sinh năm 1960. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Bùi Văn X, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  1. A (vắng mặt).
  2. Ông Hồ Văn P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025. Khoảng 14 giờ ngày 28/12/2024, Tổ công tác Công an xã Đ, huyện T tuần tra đến khu vực ấp H, xã Đ, phát hiện Tô Ngọc L điều khiển xe 67C1-165.07 chở Bùi Tấn H có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác mời cả hai về trụ sở Công an xã, kiểm tra hành chính. Khi đi, Tổ công tác chở L, Trần Hữu L1 là cán bộ tổ tuần tra tổ công tác điều khiển xe 67C1-165.07 chở Hiện ngồi sau xe, Lê Quốc Đ là cán bộ tổ công tác, điều khiển xe mô tô 67B1-006.25 chạy theo sau cùng. Khi đến khu vực ấp H, xã Đ, H lấy trong túi quần Jean bên trái phía trước ra bọc nylon màu đỏ được hàn kín, bên ngoài có in chữ Phát Lộc màu đen và có hình con mèo màu trắng, bên trong chứa chất rắn (nghi ma túy) ném xuống lề đường thì bị anh Đ phát hiện, L1 dừng xe tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng. Hiện khai bọc nylon bị Công an thu giữ là ma túy đá. Khoảng 11 giờ ngày 28/12/2024, H dùng điện thoại di động (không nhớ sim số) gọi cho người thanh niên không rõ nhân thân đặt mua 4.500.000 đồng ma túy đá về sử dụng, người này đồng ý, hẹn giao ma túy cho Hiện tại khu vực cầu P thuộc thị trấn P, huyện T. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 67C1-165.07 chở L đến quán "” thuộc ấp V, xã V, huyện T chơi; được một lúc, H điều khiển xe một mình chạy đến khu vực cầu P gặp người thanh niên nhận ma túy, trả tiền rồi quay lại quán nhưng không nói cho L biết việc H đi mua ma túy. Sau khi uống nước xong, L điều khiển xe mô tô chở Hiện về nhà L thì bị Lực lượng Công an mời làm việc, sợ bị phát hiện, trên đường đi, Hiện ném bỏ bọc ma túy xuống đường bị phát hiện như nội dung vụ án đã nêu.

Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 67C1-165.07 nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số khung CE55P10DY27007, số máy 55P1-27008; điện thoại động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, sim số 0387.857.364; điện thoại di động nhãn hiệu Redmi T9, mẫu M2010J19SG, số Imei 1: 868360052007068/05, số Imei 2: 8683600052007076/05, sim số 0384.770.411.

Tại Kết luận giám định số 1844/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,222g.

Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 28/12/2024 của Công an xã Đ, ghi nhận: Bùi Tấn H, Tô Ngọc Linh dương T với Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSTS, ngày 10/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Bùi Tấn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Tấn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị H3, đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Văn X, Nguyễn Thị H1 (bà nội, cha, mẹ ruột của Hiện), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C, người làm chứng Tô Ngọc L, Hồ Văn P trình bày như nội dụng vụ án đã nêu. Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T, xe mô tô biển số 67C1-165.07 do H3 và X quản lý, sử dụng việc Hiện sử dụng để làm phương tiện mua ma túy H3, X không biết, xin nhận lại điện thoại và xe mô tô này.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Tấn H mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Do lúc phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tấn H không tranh luận với Kiểm sát viên về điểm, khoản và điều luật áp dụng, chỉ nêu lên các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.

Bị cáo Bùi Tấn H nhất trí với bản luận cứ của người bào chữa, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện theo pháp luật của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 28/12/2024, tại ấp H, xã Đ, huyện T, Bùi Tấn H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 10,0222 gam Methamphetamine để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Thời điểm phạm tội bị cáo được 17 năm 04 tháng 06 ngày tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nhưng về tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt tù, có xét đến các quy định khác có lợi cho bị cáo được quy định trong Luật Tư pháp người chưa thành niên nên mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với người bán ma túy cho bị cáo H chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Tô Ngọc L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/12/2024 là vi phạm pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng ngày 30/12/2024.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, khi phạm tội bị cáo H chưa đủ 18 tuổi, nên căn cứ quy định khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, gắn sim số 0387 857 364 bị cáo không dùng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho bị cáo; đối với xe mô tô, biển số 67C1-165.07, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng, số khung CE55P10DY27007, số máy 55P1-27008, bị cáo sử dụng mua ma túy ông X không biết nên trả lại cho ông Bùi Văn X; điện thoại di động nhãn hiệu Redmi T9, màu đỏ, mẫu: M2010J19SG, số IMEI 1: 86860052007068/05, số IMEI 2: 868360052007076/05, gắn sim 0384 770 411 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bà Ngô Thị H3; đối với vật chứng là ma túy, đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Tấn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 12 năm 2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 1844/KL-KTHS ngày 03/01/2025) có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Bùi Vũ B. Bên trong có mẫu ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, có khối lượng 9,9760g (chín phẩy chín bảy sáu mươi gam); Trả lại cho bị cáo Bùi Tấn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, gắn sim số 0387 857 364; Trả lại cho ông Bùi Văn X 01 (một) xe mô tô, biển số 67C1-165.07, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng, số khung CE55P10DY27007, số máy 55P1-27008. Trả lại cho bà Ngô Thị H3 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi T9, màu đỏ, mẫu: M2010J19SG, số IMEI 1: 86860052007068/05, số IMEI 2: 868360052007076/05, gắn sim 0384 770 411 (Đặc điểm theo như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 24/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Tấn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Tân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger