Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày 26/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nhâm Đức Hùng
  2. Ông Nguyễn Thành Thái

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Danh Nguyễn Thuý Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Danh Thanh T (tên gọi khác: không), sinh ngày 09 tháng 9 năm 1993 tại Kiên Giang (nay là An Giang); nơi cư trú: Ấp T, xã C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh H (chết) và bà Thị L (chết); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2025 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Gia H1, sinh năm 2009 (có đơn xin vắng mặt).
  2. Anh Lạc Thái H2, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 19 giờ ngày 09/7/2025, thông qua mạng xã hội Facebook, Danh Thanh T liên hệ với người tên “Lạc Trôi” để hỏi mua 200.000 đồng ma túy về sử dụng thì được người này đồng ý và hẹn T đến khu dân cư S, thuộc xã C, tỉnh An Giang để nhận ma túy. Sau đó, T đến địa điểm đã hẹn thì gặp được người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ), người này đưa cho T 01 bịch nylon có chứa ma túy bên trong, T lấy ma túy bỏ vào trong túi quần sau bên trái đang mặc trên người và trả tiền cho người thanh niên đó.

Sau khi mua được ma túy, T đi về hướng Quốc lộ H, đến đọan đường vắng người qua lại, T lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại thì dùng bật lửa hàn kín miệng bịch nylon lại, rồi bỏ vào túi quần và tiếp tục đi. Khi đến trước cây xăng V, thuộc ấp P, xã T, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong túi quần sau bên trái T đang mặc gồm 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, kích thước 1,3cm x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể, không đồng nhất, nghi là chất ma tuý, tang vật được niêm phong theo quy định. Quá trình điều tra Danh Thanh T thừa nhận ma túy do T mua về cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

* Tại Bản kết luận giám định số 41/KL-KTHS, ngày 15/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1453 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Về vật chứng gồm:

Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 979/2025, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H3 và người chứng kiến niêm phong Võ Minh Q và có hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh A. Bên trong phong bì gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0958 gam (đựng trong 01 (một) bịch nylon).

Tại bản cáo trạng số: 06/CT- VKS- CT ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang đã truy tố bị cáo Danh Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Danh Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Danh Thanh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 979/2025, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H3 và người chứng kiến niêm phong Võ Minh Q và có hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh A. Bên trong phong bì gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0958 gam (đựng trong 01 (một) bịch nylon).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang.

Bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 48 phút ngày 09/7/2025, lực lượng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Danh Thanh T khi đang cất giữ 0,1453 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần sau bên trái mà T đang mặc trên người, tại ấp P, xã T, tỉnh An Giang, mục đích để sử dụng.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:....; c) Methamphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.

Như vậy, hành vi của bị cáo cất giấu 0,1453 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cũng như kinh tế của chính bản thân bị cáo mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Mặc dù nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân bị cáo vẫn cố tìm mua ma túy để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 979/2025, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H3 và người chứng kiến niêm phong Võ Minh Q và có hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh A. Bên trong phong bì gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0958 gam (đựng trong 01 (một) bịch nylon). Đây là vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[8] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

    Tuyên bố bị cáo Danh Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Danh Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2025.
  3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy mẫu vật được niêm phong trong 01 (một) phong bì, gồm 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0958 gam (đựng trong 01 (một) bịch nylon), phong bì có ký hiệu vụ số 979/2025, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H3 và người chứng kiến niêm phong Võ Minh Q và có hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh A. Theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 04/QĐ-VKSCT ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Danh Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 3 – An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Bị cáo Danh Thanh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger