|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản số: 52/2025/HS-ST Ngày: 26 - 6 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ
Ông Đỗ Xuân Trường
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Hoàng Ngọc A, sinh năm 1977 tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Ngọc Á và bà Nguyễn Thị M; có vợ (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 005 do Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội lập ngày 02/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2024; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án:
- + Anh Trần Văn T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Cụm I, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
– 1 –
- + Chị Quàng Thị T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.
- + Chị Lê Thị N1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Đ, T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
- + Anh Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội thực hiện kiểm tra hành chính Nhà nghỉ A1 ở khu vực Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình kiểm tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện tại phòng 501 có Trần Văn T và Lê Thị N1, tại Phòng 502 có Nguyễn Phương N và Quàng Thị T1 đang có hành vi mua bán dâm.
Cơ quan điều tra thu giữ của Lê Thị N1: số tiền 400.000 đồng (xác định là tiền Thuật trả để mua dâm N1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen lắp số điện thoại 0385.118.xxx, bên ngoài có vỏ ốp màu nâu (xác định là điện thoại N1 dùng để liên lạc với tài khoản Zalo tên “Bùi N2” là đối tượng môi giới mại dâm); 01 bao cao su, 01 vỏ bao cao su màu xanh trắng nhãn hiệu HA UNTRA THIN (đã qua sử dụng).
Thu giữ của Quàng Thị T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu ghi xám lắp số điện thoại 0789.065.xxx (xác định là điện thoại T1 sử dụng để liên lạc với tài khoản Zalo tên “Bùi N2” là đối tượng môi giới mại dâm); 01 (một) bao cao su, 01 vỏ bao cao su màu xanh trắng nhãn hiệu HA UNTRA THIN (đã qua sử dụng).
Thu giữ của bà Nguyễn Thị L (chủ nhà nghỉ A1) 01 quyển sổ bìa màu xanh ghi chép thông tin khách thuê phòng.
Trên cơ sở lời khai của Trần Văn T, Nguyễn Phương N, Lê Thị N1, Quàng Thị T1 và các tài liệu chứng cứ thu thập được ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Ngọc A để điều tra về hành vi Môi giới mại dâm. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Ngọc A 400.000 đồng (xác định là tiền hưởng lợi khi môi giới gái bán dâm); 01 xe máy nhãn hiệu
– 2 –
Honda Dream, biển kiểm soát 29F1 - 8917; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, bên trong lắp 02 sim là 0393.166.870 và 0374.706.925.
Quá trình điều tra xác định được: khoảng 18 giờ ngày 23/12/2024, sau khi ăn uống, Trần Văn T rủ Nguyễn Phương N tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục. Thuật biết Ngọc A làm nghề xe ôm ở khu vực ngã tư thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội có thể tìm gái bán dâm nên T gọi vào số điện thoại 0374.706.xxx của Ngọc A hẹn đón tại khu vực Tượng đài Phụ nữ Ba Đảm Đang thuộc thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Ngọc A đồng ý. Khi gặp nhau, T đặt vấn đề với Ngọc A tìm giúp 02 gái bán dâm cho T và N quan hệ tình dục, T sẽ trả 400.000 đồng tiền công giới thiệu. Ngọc A đồng ý và sử dụng sử dụng điện thoại 0374.706.xxx của mình gọi vào số 0862.917.662 và số điện thoại 0965.027.xxx để tìm 02 gái bán dâm cho T và N. Sau khi liên hệ, Ngọc A nói với T và N “Bây giờ anh chở các em đến nhà nghỉ lấy phòng rồi báo lại cho anh để anh báo lại với bọn nó” (tức là Ngọc A báo số phòng cho gái bán dâm đến để bán dâm cho T và N). Sau đó, Ngọc A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 29F1- 8917 chở T và N đến nhà nghỉ A1 thuộc khu Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo sự chỉ dẫn của T. Tại khu vực trước cửa nhà nghỉ A1, T và N mỗi người đưa cho Ngọc A 200.000 đồng tiền công tìm gái bán dâm và bảo Ngọc A chờ Thuật và N mua dâm xong thì chở về. Đến khoảng 19 giờ 39 phút cùng ngày, T nhắn số phòng 501; Nam nhắn số phòng 502 cho Ngọc A, Ngọc A nhắn cho 02 số điện thoại 0862.917.xxx, 0965.027.264 để các đối tượng điều gái đến các phòng này thực hiện bán dâm. Đến khoảng 19 giờ 43 phút cùng ngày, N1 lên phòng 501 để bán dâm cho T, T1 lên phòng 502 để bán dâm cho N. Thuật trả cho N1 400.000 đồng tiền mua dâm. N thoả thuận với T1 khi nào quan hệ tình dục xong sẽ trả 300.000 đồng. Khi các đối tượng đang mua bán dâm thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, Ngọc A đã khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác minh chủ đăng ký số thuê bao 0965.027.264 là anh Đinh Văn L1 (sinh ngày 28/8/1997; trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định). Tại Cơ quan điều tra, anh L1 khai nhận không đăng ký và không sử dụng số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với số 0862.917.662 xác định người đăng ký thuê bao là Trần Thị H (sinh ngày 16/8/1992; trú tại N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) tuy nhiên tại địa chỉ trên không có Trần Thị H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị N1 và Quàng Thị T1 khai: Do không có công ăn việc làm nên T1 và N1 liên hệ với tài khoản Z “Bùi N2” để tìm khách bán dâm. Bản thân N1 và T1 không biết tên, tuổi và chưa gặp chủ tài khoản Zalo Bùi Ngọc . Theo
– 3 –
thoả thuận, người sử dụng Zalo “Bùi Ngọc” tìm khách mua dâm và được hưởng 50% số tiền bán dâm được, cụ thể 300.000 đồng thì được 150.000 đồng. Tiền sẽ được chuyển đến số tài khoản 0359845792 mở tại Ngân hàng T3 (M1) chủ tài khoản là Hoàng Thị Diễm .1
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh khoản Z “Bùi Ngọc” lập từ số điện thoại 84967862840 nhưng hiện chưa xác định được thông tin chủ thuê số điện thoại này. Đối với chủ tài khoản 0359845792 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 (M1) xác định là của Hoàng Thị D (sinh ngày: 22/02/1992; địa chỉ thôn Q, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình; số điện thoại nhận OTP: 0359.845.xxx) tuy nhiên Diễm vắng mặt tại nơi cư trú nên cơ quan điều tra đã quyết định tách rút tài liệu liên quan hành vi môi giới mại dâm của đối tượng có tài khoản Z “Bùi Ngọc” và Hoàng Thị D để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS- ĐP ngày 09/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố Hoàng Ngọc A về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Hoàng Ngọc A khai: Bị cáo biết việc dẫn dắt cho khách và gái bán dâm thực hiện hành vi mua bán dâm là vi phạm pháp luật nhưng vì thu nhập từ công việc làm xe ôm thấp, không đảm bảo cuộc sống nên bị cáo vẫn làm để có thêm thu nhập. Bị cáo thừa nhận chỉ nhận được tiền công của khách mua dâm chứ không được người bán dâm trả công. Thực tế, bị cáo chưa từng gặp mặt N1 và T1. Đây là lần đầu tiên bị cáo làm công việc này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Hoàng Ngọc A về tội “Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao cao su và 02 bao cao su đã qua sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu giữ của bị cáo. Trả lại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H 02 chiếc điện thoại thu giữ của Lê Thị N1 và Quàng Thị T1 để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý đối hành vi môi giới mại dâm của đối tượng sử dụng zalo tên Bùi Ngọc .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng theo quy định tại khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
– 4 –
tiến hành điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận công khai, bị cáo Hoàng Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có liên quan là Trần Văn T, Nguyễn Phương N, Quàng Thị T1 và Lê Thị N1 cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Vì mục đích tư lợi nên khoảng 19 giờ 30 ngày 23/12/2024, Hoàng Ngọc A đã làm trung gian dẫn dắt để Trần Văn T thực hiện hành vi mua, bán dâm với Lê Thị N1 tại phòng 501 và Nguyễn Phương N thực hiện hành vi mua bán dâm với Quàng Thị T1 tại phòng 502 của nhà nghỉ A1 ở khu Đ, xã Đ, huyện Đ.
[3] Hành vi của Hoàng Ngọc A đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 53/CT- VKS- ĐP ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi Hoàng Ngọc A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hóa, văn minh của xã hội. Mại dâm là một tệ nạn của xã hội, cũng là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ra và làm lây truyền nhiều căn bệnh nguy hiểm. Vì vậy, phải xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hành vi bán dâm của Lê Thị N1, Quàng Thị T1 và hành vi mua dâm của Trần Văn T, Nguyễn Phương N, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7] Đối với người sử dụng tài khoản zalo tên Bùi N2 và Hoàng Thị D là người đăng ký số tài khoản 0359845792 mở tại Ngân hàng T3, do chưa xác định được thông tin chủ thuê số điện thoại đăng ký tài khoản zalo Bùi N2 và Hoàng Thị Diễm H1 vắng mặt tại địa phương, nên cơ quan điều tra tách rút tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ là phù hợp.
– 5 –
[8] Chị Nguyễn Thị L là chủ nhà nghỉ A1 nhưng không biết việc các đối tượng đến thuê phòng để thực hiện việc mua bán dâm nên không phạm tội.
[9] Về xử lý vật chứng: 02 vỏ bao cao su màu xanh trắng, nhãn hiệu HA UNTRA THIN và 02 bao cao su đã qua sử dụng sẽ tịch thu tiêu hủy.
[9.1] Số tiền 400.000 đồng thu của bị cáo và 400.000 thu của Lê Thị N1 là tiền do phạm tội mà có; 01 điện thoại Redmi, lắp 02 sim đã qua sử dụng thu của Hoàng Ngọc A là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ bị tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
[9.2] 01 điện thoại Samsung màu đen lắp 01 sim đã qua sử dụng, bên ngoài có vỏ ốp màu nâu thu giữ của Lê Thị N1; 01 điện thoại Iphone màu ghi xám lắm 01 sim đã qua sử dụng thu của Quàng Thị T1 có lưu nội dung các tin nhắn giữa tài khoản zalo Bùi Ngọc điều N3, T1 đi bán dâm nên sẽ trả lại cho cơ quan điều tra để có căn cứ khi tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.
[9] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc A 40 (Bốn mươi) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 24/12/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) vỏ bao cao su màu xanh trắng, nhãn hiệu HA UNTRA THIN và 02 bao cao su đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng và 01 (một) điện thoại Redmi, lắp 02 sim đã qua sử dụng.
Chuyển trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố H 01 (một) điện thoại Samsung màu đen lắp 01 sim đã qua sử dụng, bên ngoài có vỏ ốp màu nâu và 01 (một) điện thoại Iphone màu ghi xám lắm 01 sim đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/6/2025 giữa Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định
– 6 –
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |
– 7 –
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
– 8 –
– 9 –
– 10 –
– 11 –
– 12 –
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm (brokering prostitution)
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm (Brokering prostitution)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Ngọc A phạm tội môi giới mại dâm