|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày: 25/06/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Vĩ – Cán bộ Văn hóa – xã hội phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Ông Nguyễn Vũ Hải Đăng – Bí thư Đoàn thanh niên phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
– Thư ký phiên tòa: Bà Trương Hoàng Minh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Thoại – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 23 và ngày 25 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST–HS, ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 02/06/2025 đối với các bị cáo:
- Hồ Hoàng T, sinh ngày 17/02/2007, tại Cần Thơ.
- Nguyễn Hữu N1, sinh ngày 23/01/2007, tại Cần Thơ.
- Nguyễn Thái H, sinh ngày 22/10/2008, tại Cần Thơ.
- Nguyễn Thành P1, sinh ngày 01/05/2005, tại Cần Thơ.
- Nguyễn Nhật T4, sinh ngày 24/02/2007, tại Cần Thơ.
- Nguyễn Thái T6, sinh ngày 06/10/2004, tại Cần Thơ.
Nơi thường trú: số B, khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn T1 và con bà Nguyễn Thị N. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 12/8/2024, bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực quận C – Trại tạm giam Công an thành phố C.
Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Trần Hoàng B – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (SĐT: 0919.129.xxx)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện tại: khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Bị cáo bị bắt ngày 01/10/2024, bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực quận C – Trại tạm giam Công an thành phố C.
Người bào chữa cho bị cáo N1: Bà Bùi Thị Xuân T2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (SĐT: 0909.501.xxx)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi thường trú: số C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thái V và con bà Nguyễn Thị H. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại.
Người giám hộ cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (SĐT: 0702.299.xxx – 0372.969.629)
Đăng ký thường trú: Số C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Lưu Ngọc S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (SĐT: 0919.811.xxx)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi thường trú: số B khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T3 và con bà Đặng Thị Thanh L. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại.
Người bào chữa cho bị cáo P1: Ông Trần Hoàng B – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (SĐT: 0919.129.xxx)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi thường trú: số B Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T5 và con bà Phan Thị Tuyết N2. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại.
Người giám hộ cho bị cáo: Bà Phan Thị Tuyết N2, sinh năm 1977; (SĐT: 0907.915.xxx)
Địa chỉ: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bào chữa cho bị cáo P1: Ông Trần Hoàng B – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (SĐT: 0919.129.xxx)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi thường trú: số B khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B1 và con bà Đào Mỹ L1. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 2005; (SĐT: 0772.152.xxx)
Đăng ký thường trú: Số D, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Lang T7, sinh năm 1980; (SĐT: 0772.152.xxx)
- Bà Đặng Thị Thanh L, sinh năm 1983; (SĐT: 0792.621.xxx)
- Bà Phan Thị Tuyết N2, sinh năm 1977; (SĐT: 0907.915.xxx)
- Anh Nguyễn Nhựt A, sinh năm 2006. (SĐT: 0932.167.xxx)
- Bà Nguyễn Thị Út E, sinh năm 1974; (SĐT: 0337.454.xxx – 0798.448.333)
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; (SĐT: 0702.299.xxx – 0372.969.629)
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1988. (SĐT: 0907.803.xxx)
Địa chỉ: Số D, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đăng ký thường trú: Số D, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở hiện tại: Số G, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Nơi ở hiện tại: Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đăng ký thường trú: Số C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đăng ký thường trú: Số B, khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ, ngày 03 tháng 3 năm 2024, Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 cùng uống bia tại gần cầu C, thuộc khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Đến khoảng 02 giờ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 N1 phát hiện Nguyễn Nhựt A chờ Lê Văn Đ chạy xe ngang qua nhóm của N1. Do nghi ngờ Nhựt A và Đ đi trộm cắp nên N1 nói cho cả nhóm biết và cả nhóm hiểu ý định của N1, cùng mục đích đuổi đánh Nhựt A và Đ. N1 điều khiển xe mô tô biển số 65D1 - 427.23 chở T và H đuổi theo. T6 điều khiển xe mô tô biển số 65B1 - 780.95 chở P1 và T4 đuổi theo Nhựt A và Đ. Khi đi được một đoạn khoảng 100m, N1 dừng xe lại để T và H mỗi người lấy một cây dao tự chế đã giấu sẵn trước đó, còn T6 chở P1, T4 tiếp tục đuổi theo Nhựt A và Đ.
Khi T6 đuổi đến đoạn đường G thành phố Cần Thơ thì nhìn thấy Đ và Nhựt A chạy vào đường khu dân cư Diệu H2 nên dừng xe lại đợi nhóm của N1. Khi nhóm của N1 đến thì nhóm của T6 chỉ hướng đi của Nhựt A và Đ đã vào khu dân cư Diệu H2 cho nhóm N1 biết. Sau đó, T4 lấy một cây len cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại; H lấy một đoạn ống tuýp sắt được để bên đường. Nhóm của T6 đuổi theo Nhựt A và Đ vào khu dân cư Diệu H2, nhóm của N1 đi theo đường V về phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Khi nhóm của N1 chạy đến đoạn trước cửa hàng N3 tại số B, đường V, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ thì đuổi kịp Nhựt A và Đ. N1 điều khiển xe vượt lên chặn đầu xe của Nhựt A làm xe của Nhựt A bị ngã xuống đường, Nhựt A bỏ chạy, Đ bị T và H dùng dao tự chế chém nhiều cái vào vùng tay, chân, mặt và vùng vai làm Đ nằm bất tỉnh. T và H tiếp tục đuổi theo dùng tay chân đánh, đá Nhựt A nhiều lần rồi lên xe N1 chở về. Đối với T6, P1 và T4 truy đuổi theo Đ và Nhựt A nhưng không kịp. Khi nhóm N1 chạy xe về thì thấy nhóm của T6 đang truy tìm Nhựt A và Đ trong khu dân cư Diệu H2, nhóm của N1 kể cho nhóm T6 biết đã chém gục Đ nên yêu cầu nhóm T6 không tiếp tục tìm kiếm nữa mà ra về cùng với nhóm của N1. Sau đó Đ được đưa đến cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ1 đến ngày 07/3/2024 thì xuất viện.
Đồ vật, tài liệu đã tạm giữ: một đoạn ống tuýp sắt dài 67cm; một lưỡi dao tự chế dài 33 cm; một cây dao tự chế dạng dao bầu dài 46cm; một xe mô tô biển số 65D1 - 427.23; một xe mô tô biển số 65B1 - 780.95.
Tại bản kết luận giám định thương tích số 248/KLLTCT-TTPYCT ngày 22/5/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố C kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn Đ tại thời điểm giám định là: 59% (Năm mươi chín phần trăm) phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.
Tại bản kết luận giám định số 14/KLGĐ-KTHS-SV ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Máu của Lê Văn Đ thuộc nhóm máu B; vết nghi máu ghi thu trên mặt đường và vỉa hè tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm máu B, trùng với nhóm máu của Lê Văn Đ; Trên cây dao tự chế bằng kim loại màu trắng có máu, lượng vết ít không đủ để xác định máu người, máu vật. Trên cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, không có cán không phát hiện dấu vết máu.
Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 121/KLGĐĐT TTPYCT ngày 13/9/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố C kết luận Nguyễn Hữu N1 có độ tuổi từ 17 năm 03 tháng đến 17 năm 09 tháng (tại thời điểm giám định ngày 10/9/2024).
Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 111/KLGĐĐTTTPYCT ngày 09/3/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố C kết luận Hồ Hoàng T có độ tuổi từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng (tại thời điểm giám định ngày 07/3/2023).
Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 42/KLGĐĐTTTPYCT ngày 15/4/2025 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố C kết luận Nguyễn Nhật T4 có độ tuổi từ 17 năm 09 tháng đến 18 năm 03 tháng (tại thời điểm giám định ngày 09/4/2025).
Đối với xe mô tô biển số 65B1 - 780.95 của bà Phan Thị Tuyết N2 và xe mô tô biển số 65D1 - 427.23 của bà Đặng Thị Thanh L không liên quan đến hành phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự, phía bị hại Lê Văn Đ đã nhận số tiền 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng) do gia đình các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T và Nguyễn Thái H khắc phục. Hiện phía bị hại Lê Văn Đ tiếp tục yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần với số tiền 346.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng). Đối với Nguyễn Nhựt A yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS-CR, ngày 22 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị như sau:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự để nghị:
- Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng T từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm tù.
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 50; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 65 Bộ luật hình sự để nghị:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T6 từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm.
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 50; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 57; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự để nghị:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P1 từ 01 (Một) năm đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm đến 04 (Bốn) năm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T4 từ 01 (Một) năm đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm đến 04 (Bốn) năm.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để nghị xử lý như sau:
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống tuýp sắt dài 67cm; 01 lưỡi dao tự chế dài 33cm; 01 cây dao tự chế dạng dao bầu dài 36cm.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo, đại diện gia đình của các bị cáo và bị hại thống nhất mức bồi thường với số tiền tổng cộng 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), có khấu trừ số tiền mà đại diện gia đình bị cáo H, T, N1 đã khắc phục bồi thường.
Buộc bị cáo Hồ Hoàng T và bị cáo Nguyễn Thái H bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án – anh Nguyễn Nhựt A số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Về án phí: Đề nghị các bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện hòa nhập cộng đồng.
Quan điểm tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu N1 – bà Bùi Thị Xuân T2 đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tội danh: Bị cáo N1 đã thừa nhận hành vi phạm tội theo đúng nội dung của bản cáo trạng đã truy tố, lời thừa nhận phạm tội của bị cáo N1 phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố cũng như đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai tại phiên tòa nên thống nhất với tội danh về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo N1 mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị như áp dụng Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì thống nhất.
Về độ tuổi mà bị cáo N1 phạm tội là chưa thành niên chỉ mới hơn 16 tuổi, nên đề nghị áp dụng Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng ¼ mức hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ đã ly thân, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn thấp và bị hạn chế.
Từ những phân tích, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị cho bị cáo N1 được hưởng mức hình phạt là 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự thì đề nghị căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường trước đó số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và tại phiên tòa đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại.
Quan điểm tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái H – ông Lưu Ngọc S đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tội danh: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội theo đúng nội dung của bản cáo trạng đã truy tố nên thống nhất với tội danh về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha chết sớm, không sống chung với mẹ nên việc học hành không đảm bảo do đó bị cáo có nhận thức còn chưa chín chắn, thời điểm phạm tội bị cáo dưới 16 tuổi nên suy nghĩ và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Từ các tình tiết đã nêu đề nghị xử bị cáo mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo, gia đình bị cáo và bị hại thống nhất số tiền bồi thường nên đề nghị ghi nhận.
Quan điểm tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Hồ Hoàng T, Nguyễn Thành P1, Nguyễn Nhật T4 – ông Trần Hoàng B đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Tại phiên tòa, việc xét xử các bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự thì luật sư đã tham gia vụ án từ quá trình điều tra cho đến phiên tòa xét xử hiện nay thì thống nhất quan điểm về việc khởi tố, truy tố các bị cáo về tội danh và điều luận đã nêu và thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo T trong quá trình điều tra, thành khẩn khai báo, giúp cơ quan điều tra kết thúc điều tra, truy tố sớm vụ án. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Về quan điểm pháp lý thì hoàn cảnh gia đình T rất khó khăn, cha mẹ ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, mẹ phải làm thuê vất vả nuôi sống gia đình đông con, từ khi bị cáo vi phạm pháp luật, bị tạm giữ cho đến nay thì cha bị cáo cũng không thực hiện việc thăm nom đối với bị cáo. Do tính chất phát triển xã hội và thiếu sự quan tâm của gia đình nên dẫn đến độ tuổi phạm tội có độ tuổi còn trẻ nhiều. Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi nên bị cáo chưa đủ nhận thức về hành vi phạm tội, bản thân bị cáo kích động, thấy bị hại có công cụ phương tiện để trộm mèo nên bị cáo mới chuẩn bị công cụ, nếu không chuẩn bị thì có thể bị cáo sẽ không có mặt tại phiên tòa hôm nay. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét độ tuổi phạm tội của các bị cáo, hoàn cảnh điều kiện gia đình của các bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: thống nhất về việc bồi thường từ bị cáo và gia đình cho bị hại.
Đối với bị cáo T thì đề nghị áp dụng Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị tuyên bản án phù hợp với độ tuổi phạm tội vì bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ nên xem xét cho bị cáo mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.
Đối với bị cáo T4 thì thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng cho bị cáo nên chỉ đưa ra một số tình tiết như sau: Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, mẹ phải nuôi các con nhỏ, phải lo cho các con ăn học, bị cáo đang chuẩn bị học lớp 12, do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo 01 năm tù nhưng hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục đi học.
Đối với bị cáo P1 thì thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng cho bị cáo nên chỉ đưa ra một số tình tiết như sau: Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, có con đang tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo ở nhà để chăm lo cho đình nên đề nghị cho bị cáo 01 năm 06 tháng tù nhưng hưởng án treo để bị cáo có điều kiện sửa đổi.
Bị hại anh Lê Văn Đ trình bày: Tại phiên tòa thống nhất mức bồi thường mà các bị cáo cùng đại diện gia đình các bị cáo đồng ý bồi thường tổng số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) nhưng không đồng ý xin xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án - anh Nguyễn Nhựt A trình bày: Hai bị cáo Hồ Hoàng T và Nguyễn Thái H là người thực hiện hành vi đánh anh mặc dù thương tích không đáng kể, anh không yêu cầu khởi tố vụ án nhưng đã bỏ ra chi phí thuốc men nên yêu cầu bị cáo T và H phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm bà Đặng Thị Thanh L, bà Phan Thị Tuyết N2, bà Nguyễn Thị Út E, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N trình bày: Hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn nên không thể bồi thường cho bị hại một lần được. Nay thống nhất bồi thường tổng số tiền cho bị hại số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) để khắc phục cùng các bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án – bà Trần Lang T7 trình bày: Trong quá trình bị hại bị thương tích thì bà là người trực tiếp thăm nom, chăm sóc trong khi phải mất thu nhập nay các bên đã thống nhất số tiền bồi thường nên bà không tranh luận gì thêm.
Quan điểm tranh luận của đại diện Viện kiểm sát đối với quan điểm của các luật sư: Về các tình tiết giảm nhẹ mà luật sư đã nêu thì Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng cho các bị cáo rồi. Việc các luật sư xin xem xét cho các bị cáo mà mình bào chữa nhẹ hơn hoặc đầu khung đại diện Viện kiểm sát đề nghị thì do Hội đồng xét xử xem xét. Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố cơ bản là phù hợp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.
[2]. Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận do nghi ngờ bị hại Lê Văn Đ và Nguyễn Nhựt A có hành vi bắt trộm chó, mèo mà các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 đã cùng thống nhất ý chí, mang theo hung khí, dùng xe mô tô đuổi theo nhằm mục gây thương tích cho anh Lê Văn Đ và anh Nguyễn Nhựt A. Trong đó, bị cáo T và H đã trực tiếp dùng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều lần vào vùng tay, chân, đầu... của Lê Văn Đ để gây thương tích cho anh Đ.
Tại bản kết luận giám định thương tích số 248/KLLTCT-TTPYCT ngày 22/5/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố C kết luận:
Các kết quả chính:
Vết thương phức tạp đứt gân lĩa môi trên gây chảy máu ổ ạt, dập mô nhiều đã được điều trị khâu cầm máu và phẫu thuật 02 (hai) lần để cắt lọc, tạo hình vạt da che phủ tổn thương, khâu thẩm mỹ. Hiện tại vết thương đang lành.
Vết thương phức tạp ở mặt trước ngoài vai phải gây đứt cơ delta, thấu khớp vai, gãy bong (mẻ xương) mấu động lớn xương cánh tay phải đã được điều trị cắt lọc, khâu cơ và khâu vết thương. Hiện tại vết thương đã lành, vị trí mẻ xương đang can, không ảnh hưởng chức năng.
Vết thương phức tạp ở mặt sau ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải gây đứt các cơ, gãy hở 1/3 giữa hai xương cẳng tay đã được điều trị phẫu thuật 02 (hai) lần; trong đó: Lần 01 phẫu thuật mở rộng vết thương về hai phía, cắt lọc, khâu cơ đứt, đặt khung cố định ngoài, khâu vết thương và lần 02 phẫu thuật tháo khung cố định ngoài, nắn chỉnh và đặt nẹp, vít kết hợp xương gãy. Hiện tại vết thương, vết mở rộng vết thương và các vết phẫu thuật đã lành sẹo, vị trí gãy xương hai xương cẳng tay phải đang can, còn dụng cụ kết hợp xương.
Vết thương phức tạp ở mặt sau trong cổ tay phải gây đứt gân cơ, rách bao khớp, gãy mỏm trâm trụ và một phần xương thuyền, đứt động mạch và thần kinh trụ đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương về hai phía, khâu nối gân cơ, khâu nối bó mạch thần kinh trụ, khâu vết thương. Hiện tại vết thương và vết mở rộng vết thương ở đã lành sẹo, vị trí gãy các xương đang can, hạn chế vận động cổ tay phải.
Vết thương ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III bàn tay phải; vết thương ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III – IV bàn tay trái; vết thương ở mặt mu đốt gần ngón V bàn tay trái và vết thương ở mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải gây đứt gân cơ đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III – IV bàn tay trái; khâu nối các gân cơ, khâu các vết thương. Hiện tại các vết thương; vết thương và vết mở rộng vết thương ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III – IV bàn tay trái đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Văn Đ tại thời điểm giám định là 59% (Năm mươi chín phần trăm); Tỷ lệ thương tích từng vết thương: Vết thương ở vùng môi trên hiện tại đang lành, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 06% (Sáu phần trăm). Vết thương phức tạp ở mặt trước ngoài vai phải gây gãy bong (mẻ xương) mấu động lớn xương cánh tay phải hiện tại vết thương đã lành sẹo, vị trí mẻ xương đang can, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 04% (Bốn phần trăm). Vết thương phức tạp ở mặt sau ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải gây gãy hở 1/3 giữa hai xương cẳng tay hiện tại vết thương, vết mở rộng vết thương và các vết phẫu thuật đã lành sẹo, vị trí gãy xương hai xương cẳng tay phải đang can, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 19% (Mười chín phần trăm). Vết thương phức tạp ở mặt sau trong cổ tay phải gây đứt gân cơ, rách bao khớp, gãy mỏm trâm trụ và một phần xương thuyền, đứt động mạch và thần kinh trụ hiện tại vết thương và vết mở rộng vết thương ở đã lành sẹo, vị trí gãy các xương đang can, hạn chế vận động cổ tay phải, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 41% (Bốn mươi mốt phần trăm). Vết thương hình vòng cung ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III bàn tay phải hiện tại đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (Một phần trăm). Vết thương và vết mở rộng vết thương ở mặt mu khớp liên đốt bàn ngón III IV bàn tay trái hiện tại đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (Một phần trăm). Vết thương ở mặt mu đốt gần ngón V bàn tay trái hiện tại đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (Một phần trăm). Vết thương ở mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải hiện tại đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 02% (Hai phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Lê Văn Đ phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.
Lời thừa nhận này của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác như lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Các bị cáo gây thương tích cho bị hại mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 59% nên phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điều khoản luật đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án là anh Nhựt A không quen biết, cũng như có mâu thuẫn gì trước, chỉ vì các bị cáo cho rằng bị hại anh Đ và Nhựt A có hành vi trộm cắp chó mèo mà các bị cáo lựa chọn cho mình một cách hành xử, xử sự hung hãn, trái pháp luật. Pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân. Do đó, mọi hành vi xâm hại đến đều bị xử lý, trừng trị theo quy định của pháp luật. Bản thân bị cáo T6 là người đã thành niên, tuổi đời còn trẻ mà có những hành vi mang tính chất hung hãn như vậy sẽ ảnh hưởng, gây rối đến trật tự công cộng. Đối với bị cáo T, H, N1, P1, T4 tại thời điểm phạm tội các bị cáo chưa thành niên nhưng đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 nên phải chịu hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Các bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm quy định pháp luật nhưng vẫn cố đến cùng thực hiện hành vi phạm tội, điều này chứng tỏ sự xem thường pháp luật từ các bị cáo. Thiết nghĩ, cần phải có hình phạt tương xứng, để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra các bị cáo, đại diện gia đình của các bị cáo có thiện chí đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại và tại phiên tòa thống nhất bồi thường thêm theo thỏa thuận. Đối với các bị cáo T, H, N1, P1, T4 thời điểm phạm tội là người chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T6, P1, T4 không có tình tiết tăng nặng. Đối với các bị cáo T và H, N1 không có mâu thuẫn với bị hại. Bị cáo N1 dùng phương tiện là xe ô tô tông vào xe của bị hại, anh Nhựt A đang lưu thông trên đường làm cho bị hại, anh Nhựt A bị té xuống đường để cho bị cáo T, H dùng hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát trên phần đầu, tay để gây thương tích cho bị hại nên hành vi của bị cáo T và H, Nghĩa là có tính côn đồ nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Việc các luật sư bào chữa cho các bị cáo nêu trên thống nhất tội danh và điều luật áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị và các luật sư đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy thời điểm các bị cáo phạm tội là người chưa thành niên trừ bị cáo T6 và các bị cáo cùng gia đình đã khắc phục và thống nhất bồi thường thiệt hại cho bị hại cũng như anh Nhựt A, bị cáo T6 phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Nhận thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để hạ khung hình phạt và xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Tuy nhiên, việc Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 và Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cho các bị cáo T6, P1, T4 được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo T6 là người trưởng thành phải ý thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và chọn cách cư xử, xử lý cho phù hợp nhưng bị cáo lại là người sử dụng xe mô tô phân khối lớn trong tình trạng có rượu bia để chở bị cáo P1, T4 để truy đuổi đối tượng tìm kiếm bị hại, anh Nhựt A nhằm mục đích gây thương tích, mặc dù 03 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể nhưng xét thấy 03 bị cáo tuổi đời còn trẻ, không có sự mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại nhưng chỉ vì sự nghi ngờ mà lựa chọn dùng hung khí nguy hiểm để gây tổn hại sức khỏe của bị hại, anh Nhựt A. Việc 03 bị cáo chưa gây thương tích cho bị hại, anh Nhựt A là do các bị cáo mặc hậu, không trực tiếp chém mà các bị cáo gây thương tích cho bị hại thì bị cáo mặc hậu quả, không trực tiếp chém nom cũng như xem xét tình hình sức khỏe của bị hại. Đồng thời, xét về mặt tương quan lực lượng giữa nhóm các bị cáo (06 người) với bị hại (02 người) cũng không tương đồng nhưng các bị cáo lại mang nhiều hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại. Ngoài ra, tại phiên tòa bị hại bồi thường không đồng ý giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hơn nữa, tỷ lệ thương tích của bị hại rất lớn 59%, hiện nay cánh tay phải của bị hại vẫn chưa phục hồi. Điều đó cho thấy sự hung hãn, xem thường pháp luật của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không thống nhất cho ba bị cáo T6, P, T4 được hưởng án treo như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc trước, không có sự phân công vai trò cụ thể. Bị cáo N1 mặc dù không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo Nghĩa là người chủ động, khởi xướng để các bị cáo khác thống nhất cùng thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo cũng là người chủ động cho rằng bị hại có súng điện nên đề nghị đem theo hung khí, khi gặp bị hại và anh Nhựt A thì bị cáo cũng là người chặn đầu xe làm cho anh Nhựt A và bị hại té xuống đường để cho bị cáo T và bị cáo H thực hiện hành vi chém vào vùng đầu, tay... bị hại nhiều lần dẫn đến thương tích 59% và anh Nhựt A bị chấn thương phần mềm. Thương tích của bị hại, anh Nhựt A là do bị cáo T và bị cáo H là người trực tiếp gây ra. Xét thấy tính chất, mức độ hành vi thực hiện thì vai trò của 03 bị cáo N1, T và H là tương đương nhau nên mức hình phạt của các bị cáo là tương đồng nhau. Tuy nhiên, bị cáo H thời điểm phạm tội chưa đủ 16 tuổi và bị hại bị cáo còn lại trên 16 tuổi vì vậy nhận thức về pháp luật của bị cáo H có phần hạn chế hơn các bị cáo còn lại nên mức hình phạt của bị cáo H sẽ thấp hơn bị cáo còn lại theo hướng dẫn của pháp luật. Đối với các bị cáo T6, P1, T4 không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, anh Nhựt A nhưng cả ba bị cáo cũng thống nhất ý kiến đi với nhóm bị cáo N1 để gây thương tích, mặc dù các bị cáo bị mắc đầu nhưng vẫn truy tìm nhóm bị hại đến cùng nên vai trò ngang nhau nhưng bị cáo T6 là người đã thành niên phạm tội nên mức hình phạt cao hơn 02 bị cáo còn lại.
[4] Trên cơ sở xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tạo điều kiện để bị cáo sửa lỗi lầm trở thành người có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, điều đó thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn Đ yêu cầu bồi thường số tiền tổng cộng 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) gồm: Tiền thuốc điều trị, tiền đi lại và ăn uống, tiền công lao động trong khi bị thương tích, tiền công cho người nuôi bệnh, tiền tổn thất tinh thần, tiền trông răng và mổ tay để lấy inox.... Tuy nhiên tại phiên tòa, các bị cáo cùng đại diện của gia đình các bị cáo và bị hại thống nhất mức bồi thường tổng cộng 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), việc thỏa thuận thống nhất số tiền bồi thường giữa các bị cáo, đại diện gia đình của các bị cáo và bị hại phù hợp với quy định nên ghi nhận. Do không thể tính được mức độ lỗi cụ thể của các bị cáo trên tỷ lệ thương tích của bị hại nên các bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại. Các bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả trước đó với số tiền 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng) nên khấu trừ lại các bị cáo cùng đại diện gia đình phải liên đới bồi thường thêm số tiền 196.000.000 đồng (Một trăm chín mươi sáu triệu đồng).
Đồng thời, tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Nhựt A yêu cầu bị cáo T và bị cáo H bồi thường số tiền 2.000.000 đồng thì hai bị cáo và gia đình đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng thu giữ thì đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với án phí dân sự sơ thẩm, nhận thấy bị cáo T6 không có nghề nghiệp ổn định. 05 bị cáo còn lại thời điểm phạm tội chưa thành niên, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/08/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu N1 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 01/10/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành P1 01 (Một) năm 06 (Không sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật T4 01 (Một) năm 06 (Không sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái T6 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống tuýp sắt dài 67cm, qua sử dụng; 01 lưỡi dao tự chế dài 33cm, qua sử dụng; 01 cây dao tự chế dạng dao bầu dài 36cm, qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 cùng đại diện gia đình của các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 gồm bà Nguyễn Thị Út E, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1, bà Đặng Thị Thanh L, bà Phan Thị Tuyết N2 và bị hại anh Lê Văn Đ thống nhất mức bồi thường với số tiền tổng cộng 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), khấu trừ số tiền mà đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H đã bồi thường trước đó với số tiền 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng) thì các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 cùng đại diện gia đình của các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 gồm bà Nguyễn Thị Út E, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1, bà Đặng Thị Thanh L, bà Phan Thị Tuyết N2 phải liên đới bồi thường thêm số tiền 196.000.000 đồng (Một trăm chín mươi sáu triệu đồng) cho anh Lê Văn Đ.
Ghi nhận bị cáo Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H cùng đại diện gia đình bị cáo Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H gồm bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1 thống nhất bồi thường cho anh Nguyễn Nhựt A số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Kể từ khi anh Lê Văn Đ, anh Nguyễn Nhựt A có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1, Nguyễn Nhật T4 cùng đại diện gia đình của các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thành P1, Nguyễn Nhật T4 gồm bà Nguyễn Thị Út E, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1, bà Đặng Thị Thanh L, bà Phan Thị Tuyết N2 còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Hữu N1, Hồ Hoàng T, Nguyễn Thái H, Nguyễn Thái T6, Nguyễn Thành P1 và Nguyễn Nhật T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THỊ HỒNG GẤM |
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XỬ GIAM CÁC BỊ CÁO
