Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 25-6-2025

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Trần Xuân Thu;

    • Ông Phạm Xuân Trường.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1976, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ là Đặng Thị H1, có 02 con; tiền án, tiền sự: không; hiện tại ngoại; “có mặt”.

Bị hại: Ông Phan Xuân L, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 09-4-2025, Phạm Văn T một mình điều khiển xe đạp điện không gắn biển kiểm soát đi từ nhà xuống thị trấn Q, huyện G với mục đích xem nhà ai có cây cảnh để sơ hở thì trộm cắp. Khi đi qua nhà ông Phan Xuân L, T quan sát thấy trong vườn giáp đường nhựa, cạnh nhà ông L có 01 cây hoa mai vàng cánh kép, đã được tuốt lá cây đang đâm chồi vanh gốc 45cm, cây thoát thân cao 37 cm, có chiều cao 134 cm, tán rộng 110cm trồng trên chậu, không có hàng rào bảo vệ, không ai trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, T một mình điều khiển xe đạp điện từ nhà đến nhà ông L. Đến khoảng 00 giờ 01 phút ngày 10-4-2025, T đi qua nhà ông L để quan sát, khi thấy nhà ông L đã đóng cửa, đường không có ai qua lại, T quay xe lại, dựng xe ở vệ đường, đi bộ vào trong vườn, dùng tay lay, nhổ gốc hoa mai rồi mang ra để sau tay lái xe đạp điện đi về nhà cất giấu. Đến khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 13-04-2025, khi T đang chở cây mai lên vườn nhà bố mẹ đẻ của T ở xã G, huyện G để trồng, chờ tìm nơi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tình tự giác giao nộp cây hoa mai đã trộm cắp được và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là 01 cây hoa mai, 01 chiếc xe đạp điện, 01 chiếc mũ giả da màu đen loại trùm tai, 01 chiếc áo khoác, 01 chiếc quần vải, 01 đôi dép nhựa tổ ong (đều đã qua sử dụng) và 01 USB lưu trữ dữ liệu điện tử là hình ảnh camera trích xuất từ camera của nhà ông Phan Xuân L và người dân.

Ngày 18-4-2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G đã tiến hành định giá tài sản và kết luận: “01 (một) cây hoa M, loại hoa M vàng, đã được tuốt lá, cây đang đâm chồi vanh gốc 45cm, cây thoát thân 37 cm, cây có chiều cao 134cm, tán rộng 110cm có giá là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng chẵn)”.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-GT ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra. Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ 01 phút ngày 10/4/2025, tại nhà ông Phan Xuân L ở tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định, Phạm Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông L 01 cây hoa mai vàng cánh kép, đã được tuốt lá cây đang đâm chồi vanh gốc 45cm, cây thoát thân cao 37cm, có chiều cao 134 cm tán rộng 110cm trị giá 25.000.000 đồng, rồi mang về nhà cất giấu. Đến 12 giờ 15 phút ngày 13/4/2025 khi T đang chở cây mai lên vườn nhà bố mẹ đẻ để trồng tim nơi tiêu thụ thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có con bị mắc bệnh động kinh thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  5. Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tuy nhiên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách bởi bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tu dưỡng trong cộng đồng và phát huy được tính phòng ngừa chung cũng như thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

  6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Đối với cây H2 đã thu giữ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Phan Xuân L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại cho ông L. Ông L không có đề nghị gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

    Đối với 01 (một) chiếc xe đạp điện có đặc điểm nhãn hiệu Luck OSAKA màu đen, không có biển số đã thu giữ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Đặng Thị H1 (là vợ của T). Khi T sử dụng xe đi trộm cắp, chị H1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại xe cho chị H1 là phù hợp.

    Đối với 01 chiếc mũ giả da, 01 chiếc áo khoác, 01 chiếc quần vải, 01 đôi dép nhựa tổ ong, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phạm Văn T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại cho Phạm Văn T là phù hợp.

  8. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng.

  3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;

  • - CQĐT Công an tỉnh Nam Định;

  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Nam Định;

  • - Chi cục THADS tỉnh Nam Định;

  • - UBND xã Giao Yến;

  • - Bị cáo;

  • - Lưu VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger