Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 11/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Minh Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:- bà Đinh Thanh Hoàn

ông Nguyễn Văn Quýnh

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Thành Nam, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Hùng Vĩ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Su L (Tô Lương V), sinh ngày 06/6/1990 tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc;

Nơi thường trú: xóm B, thôn G, huyện T, thành phố P, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hán; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Su H (T) và bà Li Jian J (Lý Kiện C); có vợ là Zhang X (T) và 02 con; tiền án, tiền sự tại Việt Nam: không có;

Bị cáo đầu thú ngày 25/5/2025 và hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam M - Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Wang D (Vương Đạo S), sinh ngày 09/8/1988 tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc;

Nơi thường trú: thôn Đ, trấn C, thành phố L, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hán; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Wang You Cl (Vương Hữu T) và bà Wu Cai Y (Ngô Thái Y1); có vợ là Li Zhi Y2 (Lý Chí V1) và 02 con; tiền án, tiền sự tại Việt Nam: không có;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/5/2025 và hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam M - Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D), sinh năm 1991; nơi ở hiện tại: khu C, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • - Anh Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1), sinh năm 1991; nơi ở hiện tại: khu C, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • - Ông Tô Văn H2, sinh năm 1988; nơi thường trú: khu C, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/5/2025, Tổ công tác của Công an phường K (nay là Công an phường M) kiểm tra hành chính tiến hành kiểm tra hành chính và test ma túy đối với Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) đang ở tại phòng A708, khách sạn H3. Quá trình kiểm tra, test nhanh Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) dương tính với ma túy. X1 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) khai nguồn gốc ma túy đã sử dụng là do Su Liang Y5 (Tô Lương V) mang lên phòng A708. Sau khi biết Xu G (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) bị Công an đưa về làm việc, Su L (T) rời Quảng Ninh đến thành phố Hải Phòng. Ngày 24/5/2025, S3 (T) đã đến Công an phường K (nay là công an phường M) trình diện, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu trắng đã qua sử dụng, gắn sim thuê bao số 0853.416.138.

Quá trình điều tra, Su Liang Y5 (Tô Lương V) khai nhận nguồn gốc số ma túy do Su Liang Y5 (Tô Lương V) mua của Wang D (Vương Đạo S), cụ thể: khoảng 03 giờ 00 ngày 21/5/2025, do biết Wang D có bán ma túy Ketamine, S3 sử dụng tài khoản mạng xã hội Wechat có ID là Wxid_4nr7a9wllklc22 liên hệ vào tài khoản Wechat của W Dao Sen có ID là w573074525 hỏi và thỏa thuận mua 01 túi Ketamine với giá 800 CNY/túi. Wang Dao Sen hẹn S3 đến khu vực cổng khách sạn H3 giao dịch bán ma túy. Sau khi nhận được ma túy của Wang Dao S1, Su Liang Y chuyển tiền cho Wang Dao S1 vào tài khoản Wechat 800 CNY. Sau đó, S2 Liang Yu mang ma túy lên phòng A708, khách sạn H3 rồi rủ Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) cùng sử dụng ma túy, Xu G và Lin Quan Y4 đồng ý. Tại đây, Su Liang Y5 đổ Ketamine trong túi xuống mặt bàn, rồi tự lấy thẻ cứng của phòng nghiền nhỏ Ketamine rồi lấy tờ tiền 10 CNY của mình ra cuộn thành ống hút và tự hít một hơi. Hít xong, S3 đưa ống hút cho L Quan You rồi đi ngủ. Lin Quan You sử dụng xong để ống hút xuống bàn, Xu Guo Y lấy ống hút tự sử dụng hết số ma túy còn lại. Một lúc sau Su Liang Yu tỉnh dậy và đến sòng bài Hồng Vận để đánh bạc. Lin Quan Y4 và Xu G Ying nghỉ trong phòng đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày bị Tổ công tác của Công an phường K (nay là Công an phường M) kiểm tra hành chính.

[2] Khoảng 19 giờ ngày 21/5/2025, Wang D (Vương Đạo S) đang đi bộ ở khu vực khách sạn H3 bị Tổ công tác Công an phường K (nay là Công an phường M) kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra, Wang D tự móc trong túi quần phía trước bên trái ra một bao thuốc lá màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon kích thước (2x3)cm, trong túi chứa chất tinh thể màu trắng, Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Wang Dao Sen về trụ sở Công an phường lập biên bản kiểm tra hành chính. Ngoài ra, còn thu giữ của W Dao Sen 02 điện thoại di động đều nhãn hiệu iPhone đã qua sử dụng, trong đó: 01 chiếc màu trắng, gắn sim thuê bao số 0904.301.387 và 01 chiếc màu xám, gắn sim thuê bao số 0776.778.140

Quá trình điều tra, W2 khai nhận: Trong thời gian ở thành phố M (cũ), Wang D có quen biết một người thanh niên Việt Nam (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng tài khoản mạng xã hội W1 là "@@@@69" có ma túy bán. Ngày 11/5/2025, sau khi nhập cảnh vào Việt Nam, S liên lạc với người thanh niên này mua 05 túi ma túy Katamine với giá 2250 CNY (Nhân dân tệ), rồi mang về nơi ở của mình tại khu H, phường M một mình sử dụng hết. Đến ngày 15/5/2025, Wang D tiếp tục mua 05 túi Ketamine của anh ta cũng với giá trên, rồi một mình sử dụng hết 03 túi, còn 02 túi cất giấu trong người với mục đích để sử dụng và nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. W2 cũng thừa nhận đã bán ma túy cho S3 (Tô Lương V) như nội dung lời khai của Su Liang Y5.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q ra Lệnh khám xét khẩn cấp và lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Su L và Wang D, đồng thời thu giữ mẫu nước tiểu của Xu Guo Y3, Lin Quan Y4, Su L và Wang D để giám định. Qua khám xét nơi ở của Su L và Wang D không thu giữ được gì.

Tại Bản kết luận giám định số 644, 645/KL-KTHS ngày 27/5/2025 và số 696/KL-KTHS ngày 29/5/2025, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy; loại: Ketamin, khối lượng: 0,821 gam. Tìm thấy chất ma túy D1 (là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine) trong mẫu nước tiểu ghi thu của Xu Guo Y3, Lin Quan Y4, Su L và Wang D.

Qua xác minh thấy rằng: W3 (Vương Đạo S), S4 (T), Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1), đều là người Trung Quốc thường xuyên nhập cảnh vào phường K, thành phố M (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh) với mục đích đi du lịch, tìm việc làm và đến khách sạn H3 ở khu C, phường M, tỉnh Quảng Ninh để đánh bạc.

Người làm chứng Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1)trong quá trình điều tra có nội dung thể hiện tại rằng khi đang lưu trú tại phòng A708, khách sạn H3, S4 đã mang ma túy lên sử dụng giống như lời khai của S2 Liang Yu.

Người làm chứng ông Tô Văn H2 trong quá trình thể hiện rằng thông qua hệ thống camera của khách sạn H3 đã phát hiện Su L1 (T), Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) có dấu hiệu sử dụng ma túy trong phòng phòng A708 nên đã thông báo cho lực lượng Công an phường K (nay là Công an phường M) để tiến hành kiểm tra hành chính các đối tượng.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV6, ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh truy tố bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Su Liang Y5 (Tô Lương V) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Su Liang Y5 (Tô Lương V) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt: Bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V) 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 25/5/2025.
  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt: Bị cáo Wang D (Vương Đạo S) từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2025.
  • *)Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của W2 (Vương Đạo S) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Tô Lương V; Tịch thu tiêu hủy các sim lắp trong các điện thoại này; Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Vương Đạo S số tiền 800 (tám trăm) nhân dân tệ Trung Quốc tương đương 2.924.000 (hai triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn) đồng Việt Nam.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái trước đây (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh), Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S), S4 (T) là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

[2] Về tội danh, điều khoản áp dụng:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S), S4 (T) tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung lời khai người làm chứng, người chứng kiến, căn cứ Kết luận giám định số 644, 645/KL-KTHS ngày 27/5/2025 và số 696/KL-KTHS ngày 29/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

  • - Ngày 21/5/2025, tại khu vực khách sạn H3 thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S) có hành vi bán trái phép chất ma túy với giá 800 NDT (nhân dân tệ) tiền Trung Quốc cho S2 LiangYu (T) và tàng trữ 0.821 gam ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng hoặc bán nếu có người hỏi mua.
  • - Ngày 21/5/2025, bị cáo Su L1 (Tô Lương V) có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho X1 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) tại phòng A708, khách sạn H3 thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh.

[3] Các bị cáo Wang D (Vương Đạo S), S4 (Tô Lương V) có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, vi phạm các chính sách của N về phòng chống ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của W2 (Vương Đạo S) đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho hai người của S4 (Tô Lương V) đã tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, quy định về lượng ma túy loại Ketamine). Quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp lý.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm.”

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Đối với 02 người trở lên.”

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của N mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là cần thiết, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy đang gia tăng trong thời gian gần đây.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của W2 (Vương Đạo S) và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Su LiangYu (T) thực hiện một cách độc lập.

[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V), Wang D (Vương Đạo S) không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V), Wang D (Vương Đạo S) không có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Su LiangYu (T) sau khi phạm tội đã ra đầu thú, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: cần trục xuất bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V), Wang D (Vương Đạo S) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt chính và các nghĩa vụ khác theo bản án này nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác. Theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng mức hình phạt trong khung hình phạt đã truy tố, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V), W2 (Vương Đạo S) là người nước ngoài, nên nhận thức pháp luật của N1 có phần hạn chế nên cần có chính sách khoan hồng đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Việt Nam. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét để vừa bảo đảm đúng pháp luật Việt Nam, vừa thể hiện sự tôn trọng, giữ gìn và củng cố mối quan hệ đối ngoại giữa hai quốc gia láng giềng Việt Nam - Trung Quốc.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số 644 /KL-KTHS ngày 27/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, không có giá trị, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Wang D (Vương Đạo S) sử dụng để liên lạc bán ma túy; 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của S4 (Tô Lương V) sử dụng để mua ma túy, tổ chức sử dụng ma túy, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 03 sim lắp trong 03 chiếc điện thoại này.
  • - Số tiền 800 nhân dân tệ Trung Quốc (tương đương 2.986.983 đồng Việt Nam), Wang D (Vương Đạo S) có được do bán ma túy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Liên quan trong vụ án còn có đối tượng bán ma túy cho Wang Dao S1 (Vương Đạo S), quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập. Đối với Xu Guo Y3 (Hứa Quốc D) và Lin Quan Y4 (Lâm Toàn H1) đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an tỉnh Q đã xử phạt hành chính theo đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không đề cập. Đối với chủ khách sạn H3, không biết bị cáo thuê phòng để tổ chức sử dụng ma túy, quản lý khách sạn đã báo cho Công an phường K (nay Công an phường M), tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Tô Lương V, nên không đề cập.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự: Cần buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 37 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V) 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 25/5/2025.

Hình phạt bổ sung: Trục xuất bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong bản án này, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.

[2] Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 37 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Wang D (Vương Đạo S) 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2025.

Hình phạt bổ sung: Trục xuất bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong bản án này, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.

*)Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 644/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 27/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q).
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, IMEI 358684522057289 lắp 01 sim số 0904.301.387 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, IMEI 3554300079914305 lắp 01 sim số 0776.778.140 thu giữ của W2 (Vương Đạo S); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, IMEI 1: 357076592392525 lắp 01 sim số 0853.416.138, đã cũ qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Tô Lương V. Tịch thu tiêu hủy các sim lắp trong các điện thoại bị sung ngân sách Nhà nước.
  • ( Các vật chứng trên hiện do Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Quảng Ninh theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 32/2026/BB-THADSKV6, ngày 10/12/2025).
  • - Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Vương Đạo S số tiền 800 (tám trăm) nhân dân tệ Trung Quốc tương đương 2.924.000 (hai triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn) đồng Việt Nam.

*) Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Wang D (Vương Đạo S), S2 LiangYu (T) mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*)Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 – Quảng Ninh ;
  • - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Minh Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội phạm ma túy

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội phạm ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 37 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V) 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 25/5/2025. Hình phạt bổ sung: Trục xuất bị cáo Su LiangYu (Tô Lương V) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong bản án này, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác. [2] Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 37 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Wang D (Vương Đạo S) 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2025. Hình phạt bổ sung: Trục xuất bị cáo Wang Dao S1 (Vương Đạo S) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong bản án này, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger