Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST;

Ngày: 17/6/2025.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Minh.
  2. Ông Lê Quang Chính.

Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1986, tại Ninh Thuận.

Tên gọi khác: Quậy.

Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị G (đã chết); Chồng con: C sống như vợ chồng với ông Trương C1, sinh năm 1970 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2025.

Tiền án:

  • + Ngày 07/8/2013, L bị TAND huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 21/8/2013, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 08/11/2013, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của

Bản án ngày 07/8/2013 và 12 tháng tù của Bản án ngày 21/8/2013 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù.

  • + Ngày 17/4/2014, L bị TAND huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án ngày 08/11/2013 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 42 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2018.
  • + Ngày 27/11/2018, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 15/01/2019, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án ngày 27/11/2018 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 09 tháng tù.
  • + Ngày 27/8/2019, L bị TAND huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 09 tháng tù của Bản án ngày 15/01/2019 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 03 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2022.
  • + Ngày 16/9/2022, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/4/2024.

Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 25/4/2000, L bị UBND tỉnh N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 18 tháng tại Trường G1 - Cục V - Bộ C2. Chấp hành xong thời hạn giáo dưỡng ngày 08/11/2001.
  • + Ngày 11/5/2006, L bị TAND thị xã Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 14/11/2007, L bị TAND tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án ngày 11/5/2006 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù.
  • + Ngày 16/4/2008, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 21 tháng tù của Bản án ngày 14/11/2007 buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2010.
  • + Ngày 25/11/2011, L bị Công an phường T, thành phố P - T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 2.000.000 đồng (Đã nộp phạt ngày 25/11/2011).
  • + Ngày 25/7/2013, L bị Công an phường M, thành phố P - T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng (Đã nộp phạt ngày 26/7/2013).
  • + Ngày 15/3/2025, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173

Bộ luật Hình sự, xảy ra ngày 12/01/2025 tại khu phố C, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  • + Ngày 17/3/2025, L bị TAND thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 20/4/2025, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xảy ra ngày 09/4/2025 tại khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 26/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Ông Mai Văn Q, sinh năm 1974 (Vắng mặt – Yêu cầu xét xửu vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bà Võ Thị Kim A, sinh năm 1970 (Có mặt). Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền để khám chữa bệnh và tiêu xài cá nhân nên trong ngày 07/02/2025, Nguyễn Thị Hồng L đã 02 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 12 giờ ngày 07/02/2025, Nguyễn Thị Hồng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu đen gắn biển số 85E1-042.94 đi từ nhà mình ở khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để tìm kiếm nhà nào có sơ hở thì vào trộm cắp tài sản. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đi đến nhà ông Mai Văn Q (sinh năm 1974 ở khu phố D, thị trấn P, huyện N), thấy cửa nhà đang mở nên L dựng xe mô tô của mình bên lề đường rồi lén lút đi vào trong nhà. L tiến lại gần chỗ ông Q đang nằm ngủ trên giường trong phòng khách thì phát hiện 01 chiếc quần jean lửng ở để phía cuối giường nên L lục tìm trong túi quần và lấy được số tiền 750.000đ của ông Q bỏ vào túi áo khoác mình đang mặc rồi rời đi.

Lần thứ hai:

Sau khi trộm cắp tài sản của ông Mai Văn Q xong, Nguyễn Thị Hồng L tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà bà Võ Thị Kim A (sinh năm 1970 ở khu phố A, thị trấn P), thấy cửa cổng nhà bà A đang mở nên L đã dựng xe ngoài đường rồi lén lút đi vào bên trong nhà, khi đi đến phòng sau cùng của ngôi nhà L phát hiện có 01 chiếc áo khoác của bà A đang để trên yên xe mô tô hiệu Future dựng sát vách tường, lúc này chiếc áo khoác trên rơi xuống đất để lộ ra một cọc tiền với nhiều mệnh giá khác nhau nên L đã lấy số tiền là 10.850.000₫ bỏ vào trong túi áo khoác mình đang mặc, tiếp đó L để áo khoác của bà A lên chiếc võng đặt trong phòng khách rồi nhanh chóng ra điều khiển xe chạy về nhà.

Tổng giá trị tài sản là tiền mặt mà L đã chiếm đoạt là 11.600.000đ (gồm: 750.000đ tiền mặt của ông Q và 10.850.000đ tiền mặt của bà A).

* Vật chứng của vụ án: Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu đen, biển số 85E1-042.94, số khung: RLCN1DR1CY077541, số máy: 1DR1077548, số khung: RLCN1DR1CY077541, đã qua sử dụng.

* Trách nhiệm dân sự: Ông Mai Văn Q đã nhận số tiền 750.000đ do Nguyễn Thị Hồng L bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Bà Võ Thị Kim A đã nhận số tiền 5.500.000₫ do Nguyễn Thị Hồng L bồi thường và yêu cầu L tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 5.350.000₫.

Cáo trạng số: 47/CT-VKS-HS, ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại giai đoạn điều tra và truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 02 đến 03 năm tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bà Võ Thị Kim A số tiền 5.350.000đ.
  • - Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu đen, biển số 85E1-042.94, số khung: RLCN1DR1CY077541, số máy: 1DR1077548, số khung: RLCN1DR1CY077541, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Thị Hồng L, được L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã

thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại là ông Mai Văn Q vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; Xét thấy ông Q đã có lời khai tại hồ sơ và việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt ông Mai Văn Q.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại giai đoạn điều tra và truy tố; Phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ ngày 07/02/2025 tại nhà ông Mai Văn Q thuộc Khu phố C, thị trấn P, huyện N; Nguyễn Thị Hồng L (là người có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích theo quy định pháp luật) đã đột nhập vào nhà lục lọi trộm cắp được 750.000đ tiền mặt đang để trong túi quần Jean ở trên giường ngủ của ông Mai Văn Q; Sau khi trộm cắp tài sản của ông Q thì L tiếp tục đi tìm tài sản để trộm cắp, khi đến nhà bà Võ Thị Kim A thuộc Khu phố A, thị trấn P, huyện N; Nguyễn Thị Hồng L đột nhập vào nhà trộm cắp một cọc tiền tổng số 10.850.000₫ đang trong túi áo khoác vắt trên yên xe mô tô dựng sát vách tường của bà Võ Thị Kim A; Tổng tại sản bị cáo chiếm đoạt là 11.600.000đ. Vì vậy Cáo trạng số: 47/CT-VKS-HS, ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét mặt chủ quan, khách quan, chủ thể và khách thể của tội phạm: Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản bị pháp luật cấm và sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam lười lao động nên bị cáo đã bất chấp và cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trái pháp luật; Lần Lĩnh trộm cắp tài sản của ông Mai Văn Q mặc dù bị cáo chiếm đoạt 750.000đ nhưng bị cáo là người đang có tiền án vì vậy hành vi trộm cắp tài sản của ông Mai Văn Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” độc lập với lần trộm cắp tài sản của bà Võ Thị Kim A; Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[2.3] Xét nhân thân của bị cáo: Nguyễn Thị Hồng L đã nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính và bị Tòa án xử phạt (09 lần) liên quan đến hành vi trộm cắp, ngoài ra L còn có 08 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo không ăn năn, không chịu hướng thiện. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo hộ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Thị Hồng L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp (01 lần ông Mai Văn Q và 01 lần của Võ Thị Kim A) cả 02 lần trộm cắp này đều cấu thành tội phạm vì vậy Nguyễn Thị Hồng L đã phạm vào tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình và đã bồi thường khắc phục hậu quả cho ông Mai Văn Q 750.000đ, bồi thường cho bà Võ Thị Kim A 5.500.000đ, ngoài ra bà A yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hồng L đã bồi thường ông Mai Văn Q đủ số tiền chiếm đoạt là 750.000đ, ông Q không yêu cầu gì thêm; Đối với bà Võ Thị Kim A: Bị cáo chiếm đoạt 10.850.000đ và đã bồi thường được 5.500.000đ, bà A yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại vì vậy căn vào điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phải bồi thường cho bà Võ Thị Kim A số tiền còn lại là 5.350.000đ.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu đen, biển số 85E1-042.94, số khung: RLCN1DR1CY077541, số máy: 1DR1077548, số khung: RLCN1DR1CY077541, đã qua sử dụng là xe của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 173; Các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L (Q1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L (Quậy) 04 (Bốn) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù tại bản án số 47/2025/HS-ST, ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng L (Q1) phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng L (Quậy) phải bồi thường cho bà Võ Thị Kim A số tiền 5.350.000₫.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, màu đen, biển số 85E1-042.94, số khung: RLCN1DR1CY077541, số máy: 1DR1077548, số khung: RLCN1DR1CY077541. (Vật chứng hiện đang được quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L (Q1) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và bị hại bà Võ Thị Kim A, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/6/2025); Bị hại ông Mai Văn Q vụ án vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT. Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Cốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng Lĩnh 173
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger