Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 16-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Trương Thị Thu Hà;
  • Bà Nguyễn Thị Phụng;
  • Bà Trần Thị Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 0 6 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Văn K (Tên gọi khác: Trần Vân K1), sinh năm 1990, tại tỉnh Quãng Ngãi; nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ tên cha) và bà Ngô Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo ra đầu thú; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn K: Ông Nguyễn Quang T - Luật sư - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Trần Văn P, sinh năm 1983 (đã chết);

Đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn P: Ông Trần Văn P1, sinh năm 1942; nơi thường trú: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi tạm trú: 33/12A, ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;

  1. Bà Lê Thị G, sinh năm 1988 (đã chết);

Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị G: Ông Lê Văn H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960 (là cha, mẹ ruột của bị hại G) cùng nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1: Ông Lê Văn H, sinh năm 1959; nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn H:Ông Đinh Văn K2, sinh năm 1966, nơi cư trú: Số nhà D, đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt;

- Người làm chứng:

  1. Bà Lâm Thị Thu H1, vắng mặt;
  2. Ông Lê Phương B, vắng mặt;
  3. Ông Lê Phước M, vắng mặt;
  4. Ông Lê Thiện N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn K và bà Lê T2 hị G có quan hệ tình cảm với nhau nên vào tháng 05/2011, K và bà G thuê phòng số 3, địa chỉ: Số E I, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sống chung. Do công việc của K làm ca đêm thường ở lại phòng trọ của bạn tên Lê Phước M, địa chỉ: 1, khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thuận tiện công việc; biết K không thường xuyên về phòng trọ ngủ cùng bà G nên vào tối ngày 23/6/2011, ông Trần Văn P điều khiển xe mô tô Kawasaki Max, biển số 53S6-1252 đến phòng số 03 gặp bà G và ngủ lại cùng bà G. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, Kim tan ca và điều khiển xe mô tô Dream (không rõ biển số) về phòng gặp bà G. Khi về đến nơi thấy phòng trọ đóng cửa, Kim nhìn qua khe cửa sổ thấy bà G và ông P đang nằm ngủ cạnh nhau. Lúc này, K bực tức và nảy sinh ý định giết chết bà G và ông P nên điều khiển xe môtô đến cây xăng ở gần khu vực bến xe T mua 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) xăng rồi điều khiển xe mô tô qua phòng của ông M lấy một ổ khóa hiệu VIỆT – TIỆP màu vàng, K tiếp tục điều khiển xe môtô quay lại phòng số 3. Lúc này, Kim dựng xe mô tô trước cổng dãy trọ rồi đi bộ vào dùng ổ khóa, khóa cửa bên ngoài của phòng số 3, dùng can xăng đổ vào khe hở phía dưới cửa phòng trọ và bật quẹt gas châm lửa đốt. Lúc này, ông P và bà G tỉnh dậy phát hiện kêu cứu thì người dân ở các phòng trọ bên cạnh thức dậy thấy phòng số 3 đang bốc cháy nên dùng búa đập tường, phá cửa, dùng bình chữa cháy dập lửa. Ông P và bà G bị cháy bỏng nên người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q, sau đó chuyển đến Bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị. Đến ngày 28/6/2011, ông P tử vong và ngày 05/7/2011, bà G tử vong.

Sau khi thực hiện hành vi trên, Kim bỏ trốn đến ngày 25/6/2011, K gọi cho bà Lâm Thị Thu H1 là quản lý công ty nơi K làm việc kể lại sự việc trên nên bà H1 đã động viên K ra đầu thú, đồng thời bà H1 gửi đơn trình báo hành vi của K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Đến ngày 03/02/2013, Ngô Văn K bị bắt theo Quyết định truy nã số 16 ngày 08/7/2012. Vụ án được tạm đình chỉ điều tra và hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Ngô Văn K. Ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định phục hồi điều tra bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 147/11/GĐPY ngày 08/7/2011 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh B đối với bị hại Trần Văn P, kết luận:

Dấu hiệu chính:

  • Bỏng lửa diện tích khoảng 63% độ II, III (20% độ III).
  • Bỏng đường hô hấp.
  • Vết bỏng nhiễm trùng.
  • Nhiễm trùng đa tạng.
  • Không có thương tích chấn thương do ngoại lực.

Kết luận: Bị hại P tử vong do choáng nhiễm độc, nhiễm trùng ở nạn nhân có diện tích bỏng rộng, sâu, bỏng đường hô hấp.(Bút lục: 33-34)

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 154/11/GĐPY ngày 08/7/2011 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh B đối với bị hại Lê Thị G, kết luận:

Dấu hiệu chính:

  • Bỏng lửa toàn thân diện tích khoảng 45% độ II, III (có 15% độ III).
  • Bỏng đường hô hấp.
  • Vết bỏng nhiễm trùng.
  • Viêm đa tạng, phù phổi.
  • Không có thương tích do chấn thương ngoại lực.

Kết luận: Bị hại G tử vong do choáng nhiễm độc, nhiễm trùng ở nạn nhân có diện tích bỏng diện rộng, sâu, bỏng đường hô hấp.(Bút lục: 35-36).

Căn cứ Bản kết luận giám định số 576/GĐ-PC54 ngày 30/6/2011 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh B, kết luận: 50 ml chất lỏng trong can nhựa loại 5 lít và các cục xi măng, xà bần, tro bụi được thu giữ trong quá trình khám nghiệm, gửi đến giám định: Có thành phần của xăng dầu. (Bút lục: 32).

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 27/02/2012 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bình Dương đối với xe mô tô hai bánh hiệu Kawasaki Max màu tím, biển số 53S6-1252, số máy AN090GEAY 43574, số khung AN090GA43574, dung tích xi lanh 97 cm³, kết luận: Chiếc xe mô tô trên tính đến thời điểm bị thiệt hại, trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Xe chỉ bị cháy toàn bộ yên xe và chụp đèn sau của xe; Hội đồng định giá không định giá được giá trị thiệt hại của chiếc yên xe và chụp đèn sau của xe mô tô. (Bút lục: 32)

Căn cứ Bản kết luận giám định số 487/C54B ngày 24/02/2012 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với 01 (một) ổ khóa treo hiệu VIỆT-TIỆP (mục 2.1) và 01 (một) chìa khóa bằng kim loại màu trắng, trên cán chìa có dập nổi chữ VIỆT-TIỆP (mục 2.2), kết luận:

Sử dụng chìa khóa gửi giám định (nêu ở mục 2.2) mở được ổ khóa treo hiệu VIỆT-TIỆP gửi giám định (trong điều kiện bình thường). Chìa khóa gửi giám định nêu trên là chìa khóa nguyên thủy của ổ khóa treo VIỆT-TIỆP gửi giám định (nêu ở mục 2.1). (Bút lục: 84)

Căn cứ Bản kết luận giám định số 1038/GĐ-PC54 ngày 04/7/2012 của Phòng K4 Công an tỉnh B đối với 01 (một) can nhựa loại 5 lít màu trắng thu được ở hiện trường (ký hiệu A), kết luận: Không phát hiện dấu vết đường vân trên can nhựa.(Bút lục 99).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 174 ngày 06/6/2013 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

  • Về y học: Trước, trong, sau khi gây án: Đương sự không có bệnh tâm thần; Trong và sau khi gây án: Phản ứng với stress cấp (F43-ICD.10); Hiện nay: Rối loạn phân ly (F44-ICD.10)
  • Về pháp luật, tại thời điểm gây án: Đương sự có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng hạn chế do bệnh. Hiện nay: Chưa đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật. (Bút lục: 163-164).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 117 ngày 16/3/2013 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

  • * Bị bệnh: Rối loạn phân ly (F44-ICD.10).
  • * Hiện tại đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật. (Bút lục: 196).

Căn cứ Kết luận giám định số 338/GĐ-PC54 ngày 11/9/2017 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận: Chữ ký và chữ viết trên 01 (một) “Biên bản hỏi cung bị can”, đề ngày 05/4/2013 (ký hiệu A) là chữ ký và chữ viết trực tiếp bằng bút mực màu đen. (Bút lục 260).

Căn cứ Bản kết luận giám định số 224/GĐ-PC54 ngày 27/6/2017 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận: Dấu vân tay ngón trỏ phải và ngón trỏ trái trên 01 (một) “Tờ khai chứng minh nhân dân” (phôtô), số: [...], tên “Trần Vân K1”, sinh năm 1990, nơi ĐKHK thường trú: Thôn I, L, M, Quảng Ngãi, ngày 21/02/2006 (ký hiệu A) so với dấu vân tay ngón trỏ phải và ngón trỏ trái trên 01 (một) “Tờ khai chứng minh nhân dân” (phôtô), số [...], tên Ngô Văn K, sinh năm 1990, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn I, L, M, Quảng Ngãi, ngày 04/3/2008 (ký hiệu M) là của cùng một người in ra. (Bút lục 253).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 410 ngày 19/9/2017 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

  • Về y học:
    • + Hiện nay: Đương sự bị bệnh giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loại thần (F32.2-ICD.10).
  • Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi:
    • + Hiện nay: Đương sự chưa đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.(Bút lục: 264-265).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 182 ngày 13/4/2020 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

Bị bệnh: Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loại thần (F32.2-ICD.10).

Hiện tại đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.(Bút lục: 279).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 224 ngày 30/4/2021 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

  • Về y học:
    • + Hiện nay: Đương sự bị bệnh Trầm cảm tái diễn, giai đoạn nặng có triệu chứng loại thần (F33.3-ICD.10).
  • Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi:
    • + Hiện nay: Đương sự mất khả năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.(Bút lục: 402-403).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 395 ngày 31/7/2024 của V đối với bị can Ngô Văn K, như sau:

  • * Bị bệnh: Trầm cảm tái diễn, giai đoạn nặng có triệu chứng loại thần (F33.3-ICD.10).
  • * Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.(Bút lục: 405).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, quy định tại điểm s, k khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của các bị hại, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Về nhận thức: bị cáo nhận thức được hành vi dùng xăng là chất dễ cháy, tính nguy hại rất cao, đổ vào khe hở dưới cửa phòng dùng quẹt gas châm lửa đốt sẽ dẫn đến chết người, và gây thiệt hại về tài sản rất cao, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho Cơ quan Điều tra trong quá trình điều tra giải quyết vụ án; bị cáo thực hiện với lỗi cố ý; bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện theo quy định của pháp luật; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội không thời hạn, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành con người tốt.

[6] Đối với xe mô tô Kawasaki Max màu tím, biển số 53S6-1252 bị cháy toàn bộ yên xe và chụp đèn sau của xe nên Hội đồng định giá không định giá được giá trị thiệt hại của chiếc yên xe và chụp đèn sau của xe mô tô. Ngoài ra những thiệt hại do phòng trọ bị cháy, bà Vũ Thị M1 đã tự sửa chữa, bà M1 không yêu cầu bồi thường và không yêu cầu định giá tài sản; cơ quan Điều tra xác định không có căn cứ xử lý Ngô Văn K về hành vi huỷ hoại tài sản là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bóp da màu đen bên trong có: 01 (một) giấy CMND tên Trần Văn P; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 53S6-1252 tên Nguyễn Thị Thiên H2; 01 (một) giấy phép lái xe tên Trần Văn P; 01 (một) giấy bán xe từ Nguyễn Thị Thiên H3 cho Hoàng Trung K3; 01 (một) giấy bán xe từ Hoàng Trung K3 cho Trần Văn P; tiền Việt Nam: 100.000 (một trăm nghìn) đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu K-Touch D176 vỏ màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Kawasaki Max màu tím, biển số 53S6-1252 (xe bị cháy biến dạng một phần) là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn P. Ngày 01/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B Quyết định xử lý vật chứng số 56 trả lại cho gia đình Trần Văn P toàn bộ những đồ vật trên là phù hợp.

- Đối với 01 (một) bóp da màu đỏ bị cháy xém, bên trong có 01 tấm ảnh 01 nam, 01 nữ loại (3x4)cm; 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế tên G (bị cháy xém); 01 (một) giấy CMND tên G (bị cháy xém, không rõ họ tên); 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Đ tên Lê Thị G; tiền Việt Nam: 11.000(mười một nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động Nokia N8 màu xám; 01 (một) điện thoại di động LG vỏ màu đen là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị G. Ngày 01/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B Quyết định xử lý vật chứng số 57 trả lại cho gia đình Lê Thị G toàn bộ những đồ vật trên là phù hợp.

- Đối với:

  • 01 (một) Ổ khóa kim loại hiệu VIỆT-TIỆP;
  • 01 (một) Chìa khóa bằng kim loại màu trắng, trên cán chìa có dập nổi chữ VIỆT-TIỆP;
  • 01 (một) Ổ khóa kim loại nhãn hiệu Mastery;
  • 01 (một) Can nhựa loại 5 lít, màu bạc;
  • 01 (một) Bịch bên trong chứa mụi than và mảng xi măng vỡ;
  • 01 (một) Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Tô Văn D;
  • 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Tô Văn D (không có hình ảnh);
  • 01 (một) Giấy CMND không rõ số, mang tên Tô Văn D;
  • 01 (một) Giấy CMND không rõ số, mang tên YADOAN không có hình ảnh (tình trạng bị rách góc bên trái), là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; các loại giấy tờ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt áp dụng cho bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Ý kiến của người bào chữa chỉ định cho bị cáo là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Ngô Văn K có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của ông Trần Văn P số tiền 109.000.000 (một trăm lẻ chín triệu) đồng; bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bà Lê Thị G số tiền 107.700.000 (một trăm lẻ bảy triệu bảy trăm nghìn) đồng.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn K phạm tội “Giết người”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s, k khoản 1 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Ngô Văn K tù chung thân, về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2024,
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015; buộc bị cáo Ngô Văn K có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của ông Trần Văn P số tiền 109.000.000 (một trăm lẻ chín triệu) đồng; bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bà Lê Thị G số tiền 107.700.000 (một trăm lẻ bảy triệu bảy trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) Ổ khóa kim loại hiệu VIỆT-TIỆP;
  • 01 (một) Chìa khóa bằng kim loại màu trắng, trên cán chìa có dập nổi chữ VIỆT TIỆP;
  • 01 (một) Ổ khóa kim loại nhãn hiệu Mastery;
  • 01 (một) Can nhựa loại 5 lít, màu bạc;
  • 01 (một) Bịch bên trong chứa mụi than và mảng xi măng vỡ;
  • 01 (một) Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Tô Văn D;
  • 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Tô Văn D (không có hình ảnh);
  • 01 (một) Giấy CMND không rõ số, mang tên Tô Văn D;
  • 01 (một) Giấy CMND không rõ số, mang tên YADOAN không có hình ảnh (tình trạng bị rách góc bên trái).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương).

  1. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

bị cáo Ngô Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.835.000 (mười triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được thực hiện giao theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (10);
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương (02);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án, LNH, 25.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (giết người)

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger