|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HS-ST
Ngày: 10/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Minh Huyền và bà Trịnh Thị Huệ.
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Ngọc Minh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đồng Mai Xuân A; tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 4 năm 1992, tại C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu A, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp: 4/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Mai Xuân T; con bà: Đồng Thị T1; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 20/12/2024; có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà: Đồng Thị T1; sinh năm: 1964; nơi cư trú: tổ G, khu A, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.
* Người làm chứng: anh Phạm Văn H; Hoàng Văn T2 - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn H (trú tại tổ B, khu C, phường Q, thành phố C) biết A bán trái phép ma túy. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, H và bạn là Hoàng Văn T2 (trú tại Tổ B, khu M, phường C, thành phố C) rủ nhau đi mua ma túy Heroine, giá 500.000 đồng/túi để sử dụng, H đưa 500.000 đồng cho T2 cầm. H gọi điện cho A hỏi mua 02 túi ma tuý, A hẹn đến nhà văn hóa khu H2, phường C, thành phố C để giao dịch. H chở T2 bằng xe mô tô đến điểm hẹn thì gặp A cũng đi xe mô tô biển số 14S1-004.18 đến. Đến nơi hẹn, T2 đưa cho A 1.000.000 đồng, A đưa cho H 02 túi nilon chứa ma túy Heroine. Sau đó, H và T2 chia nhau mỗi người 01 túi ma túy. Trên đường về nhà, H làm rơi mất túi nilon ma túy của mình, túi còn lại T2 đã sử dụng hết, vỏ túi nilon T2 cất vào trong áo khoác.
Đến khoảng 16 giờ ngày 18/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T2 xin H số điện thoại của A rồi gọi điện cho A hỏi mua ma tuý Heroine. A hẹn T2 đến khu vực gầm băng tải thuộc Km6 phường Q, thành phố C, rồi đi xe mô tô đến và bán cho T2 01 túi nilon chứa ma tuý Heroine, giá 500.000 đồng.
Hồi 03 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tại khu vực bãi đất trống thuộc tổ G, khu D, phường C, thành phố C, T2 vừa sử dụng xong số ma túy thì Công an thành phố C đến kiểm tra phát hiện. Thu giữ của T2: 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga mầu đỏ; 02 túi nilon bên trong đều dính chất bột màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen lắp sim số 0985.701.355.
Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đồng Mai Xuân A. Thu giữ của A: 01 điện thoại OPPO, lắp 02 sim số 0977.733.813 và 0387.384.274; 01 xe mô tô biển số 14S1-004.18.
Tại Bản Kết luận giám định số 2064 ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng dạng vết trong 02 túi nilon thu giữ của Hoàng Văn T2 là ma túy; loại Heroine.
Bản kết luận giám định số 2072/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: tìm thấy chất Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn T2, Đồng Mai Xuân A.
Tại phiên toà, Đồng Mai Xuân A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai số ma túy trên A mua của 01 người không quen biết tại khu vực dốc đường vận chuyển than chuyên dụng 86, thuộc phường Q, thành phố C. Khi mua bán ma túy, A không cân nên không xác định được khối lượng. Số tiền có được, A đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Tại bản Cáo trạng số 1660/CT-VKSCP ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Đồng Mai Xuân A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Đồng Mai Xuân A mức án từ 07(bảy) năm 03(ba) tháng đến 07 (bảy) năm 09(chín) tháng tù.
Căn cứ: điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ: 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu đỏ, 02 sim điện thoại. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại OPPO của A; buộc bị cáo nộp lại số tiền bán ma tuý 1.500.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Đồng Mai Xuân A khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; phù hợp với lời khai của Phạm Văn H, Hoàng Văn T2 về thời gian, địa điểm, loại ma tuý mà T2 sử dụng; phù hợp với biên bản khám xét; H, T2 nhận dạng được Đồng Mai Xuân A và ngược lại A cũng nhận dạng được H, T2 qua ảnh; phù hợp với các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Hoàng Văn T2; phù hợp với các biên bản làm việc xác định địa điểm giao nhận ma tuý và tiền của A, H, T2; phù hợp với bản ảnh vật chứng; phù hợp với các cuộc gọi đi và đến từ điện thoại của T2 và Đồng Mai Xuân A trong ngày 18/12/2024.
Tại kết luận giám định số 2064/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất ma tuý dạng vết thu giữ của Hoàng Văn T2 là: Heroine phù hợp với chất ma tuý tìm thấy trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn T2 và Đồng Mai Xuân A (tại kết luận giám định số 2072/ KL-KTHS ngày 28/12/2024).
Với các chứng cứ trên cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Sáng ngày 18/12/2024, tại nhà văn hóa khu H2, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Đồng Mai Xuân A đã bán trái phép 02 túi nilon ma tuý Heroine cho Phạm Văn H và Hoàng Văn T2, với giá 1.000.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, tại gầm băng tải K phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, A tiếp tục bán trái phép 01 túi nilon ma tuý H1 cho T2 với giá 500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây mất ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội.
[5] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng.
[6] Về vật chứng: số ma tuý Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án đã giám định hoàn hết nên không đề cập xử lý.
Thu giữ trong vụ án 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga mầu đỏ, 02 điện thoại OPPO của T2 và của bị cáo A.
Xét 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen lắp sim số 0985.701.355 của T2, do T2 không phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho T2 là thoả đáng. Điện thoại OPPO của bị cáo, bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước; 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga mầu đỏ, 02 sim điện thoại là vật không có giá trị cần tịch thu và tiêu huỷ.
01 xe mô tô biển số 14S1-004.18, chủ sở hữu là bà Đồng Thị T1 – mẹ của A, bà T1 không biết A sử dụng vào việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T1 nên không đề cập xử lý.
Số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma tuý mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại nộp ngân sách nhà nước.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho A do không biết lai lịch, địa chỉ nên không đủ căn cứ xử lý.
Đối với hành vi mua và sử dụng trái phép chất ma túy Hoàng Văn T2, đã bị xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Đồng Mai Xuân A phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Đồng Mai Xuân A 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị 20/12/2024.
Về vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga mầu đỏ và 02 sim điện thoại của A.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng của A.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 92/BB-THA ngày 03/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo Đồng Mai Xuân A phải nộp lại số tiền: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc Đồng Mai Xuân A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Cao Thị Lan Anh |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh QN;
- - VKSND tỉnh QN ;
- - VKSND TP.Cẩm Phả;
- - Cơ quan CSĐT CA tỉnh QN;
- - Cơ quan THAHS công an tỉnh QN;
- - Trại tạm giam công an tỉnh QN;
- - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
- - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
- - Lưu hồ sơ, văn phòng.
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Mai Xuân A mua bán trái phép ma tuý
