Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 08/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Vũ Thị Liên.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nhật Dương -

Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên tham gia

phiên tòa: Ông An Bình Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 08/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST- HS ngày 18/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025 đối với bị cáo:

Trần Tuấn M, sinh năm 1997 tại Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Nguyên T, sinh năm 1972 và bà Lê Thị A, sinh năm 1974; vợ con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 10/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam K - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

  • + Anh Đỗ Hữu T1, sinh năm 1998 – Vắng mặt.
  • Trú tại: Thôn Y, xã V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Ông Trần Nguyên T, sinh năm 1972 – Có mặt.
  • Trú tại: Thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên.

* Người chứng kiến:

  • + Bà Trần Thị H, sinh năm 1976 – Vắng mặt.
  • Trú tại: Thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nơi ở của Trần Tuấn M sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên có một số đối tượng có biểu hiện như người nghiện ma túy, Công an xã T tiến hành kiểm tra nơi ở của M. Tại đây, ngoài M còn có anh Đỗ Hữu T1 sinh năm 1998, trú tại thôn Y, xã V, tỉnh Hưng Yên. Quá trình kiểm tra, M đã tự nguyện lấy từ trong 01 hộp nhựa đặt trên mặt bàn bếp 01 túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu xanh, bên trong có 01 viên nén màu hồng (dạng ½ viên) và 01 túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu đỏ, bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng, dạng hình tròn rồi giao nộp cho lực lượng Công an. M khai nhận các viên nén trong 02 túi nilon trên là ma túy “ngựa”, M mua về để sử dụng. Lực lượng công an đã lập biên bản, quản lý và niêm phong theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 03/8/2025, M đi bộ một mình đến khu vực bến đò Đông Ninh thuộc địa phận xã C, tỉnh Hưng Yên với mục đích mua ma túy về sử dụng, tại đây M gặp một người đàn ông chỉ biết tên là B (M không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ của người này). M hỏi người người đàn ông có ma túy không, bán cho M 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) ma túy “ngựa”. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa cho M 01(một) túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu xanh, bên trong có 01 viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu đỏ, bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng. M kiểm tra thấy đúng là ma túy “ngựa” thì mang số ma túy trên về nhà cất giữ. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/8/2025, M lấy nửa viên ma túy vừa mua được ra sử dụng rồi giấu số ma túy còn lại trong chiếc hộp nhựa đặt trên bàn bếp. Khoảng 11 giờ 30 phút, do biết M có chuyện buồn nên anh Đỗ Hữu T1 tới nhà M để tâm sự, động viên. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, lực lượng Công an xã T tiến hành kiểm tra nơi ở của M, quản lý 01 túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu xanh, bên trong có 01 viên nén màu hồng (dạng ½ viên) và 01 túi nilon màu trắng, có nắp viền ngoài màu đỏ, bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng, dạng hình tròn do M tự nguyện giao nộp.

Quá trình kiểm tra, Công an xã T đã tiến hành dùng điện thoại di động ghi lại quá trình kiểm tra, thu giữ tại nơi ở của Trần Tuấn M và sao chép vào 01 USB nhãn hiệu Kingston.

Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của M. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu nước tiểu của Trần Tuấn M. Tại Kết luận giám định số 5907/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của V - Bộ C kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu của M.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định về ma túy đối với 04 viên nén màu hồng thu giữ được tại nhà của M. Tại Bản Kết luận giám định số 737/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Chất dạng viên nén màu hồng trong niêm phong có tổng khối lượng 0,371g (Không phẩy ba bẩy một gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định đối với đoạn video ghi lại quá trình kiểm tra tại nơi ở của Trần Tuấn M. Tại Bản Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 25/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

* Vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01(một) USB nhãn hiệu Kingston lưu trữ đoạn video ghi lại quá trình kiểm tra, thu giữ ma túy tại nơi ở của Trần Tuấn M. Hiện đang quản lý trong hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 737/KL-KTHS, trong niêm phong có 0,314g (Không phẩy ba một bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine; các vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã nhập kho vật chứng chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Tuấn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với việc tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu của M, tuy nhiên qua xác minh tại địa phương, M không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Đối với Đỗ Hữu T1 là người ở cùng M khi lực lượng Công an vào kiểm tra. Qua xét nghiệm test nhanh nước tiểu của T1 thể hiện âm tính với ma túy. T1 không biết việc M mua, cất giấu, sử dụng ma túy nên không xử lý.

Đối với người đàn ông tên B, khoảng 30 đến 35 tuổi, đeo khẩu trang đã bán ma túy cho M (M gặp lần đầu, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm tuy nhiên không phát hiện người nào có đặc điểm như trên. Do vậy, không có căn cứ để làm rõ và xử lý.

Cáo trạng số 25/CT-VKSKV3 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên đã truy tố Trần Tuấn M về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Trần Tuấn M:
  • - Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • - Xử phạt bị cáo Trần Tuấn M từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/8/2025.
  • - Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng...; Kết luận giám định số 737/KL – KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H đối với mẫu chất thu giữ của M... Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, tại nhà của Trần Tuấn M ở thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên; Trần Tuấn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,371g (Không phẩy ba bẩy một gam) ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe và trí tuệ của con người nhưng vì nhu cầu thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:

  • + Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự gì.
  • + Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định được niêm phong dán kín có số ký hiệu 737/KL – KTHS là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với 01(một) USB nhãn hiệu Kingston lưu trữ đoạn video ghi lại quá trình kiểm tra, thu giữ ma túy tại nơi ở của Trần Tuấn M sẽ lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7]. Đối với Đỗ Hữu T1 là người ở cùng M khi lực lượng Công an vào kiểm tra. Qua xét nghiệm test nhanh nước tiểu của T1 thể hiện âm tính với ma túy. T1 không biết việc M mua, cất giấu, sử dụng ma túy nên không xử lý là phù hợp.

[8]. Đối với người đàn ông tên B, khoảng 30 đến 35 tuổi, đeo khẩu trang đã bán ma túy cho M, do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm tuy nhiên không phát hiện người nào có đặc điểm như trên. Do vậy, không có căn cứ để làm rõ và xử lý là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Trần Tuấn M.

    Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Tuấn M 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/8/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định ghi số 737/KL – KTHS, trong niêm phong có 0,314 g (không phẩy ba một bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine; các vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

    (Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03/12/2025 giữa Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hưng Yên).

    - Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01(một) USB nhãn hiệu Kingston lưu trữ đoạn video ghi lại quá trình kiểm tra, thu giữ ma túy tại nơi ở của Trần Tuấn M.

  3. Về án phí: Bị cáo Trần Tuấn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA);
  • - VKSND khu vực 3 – Hưng Yên;
  • - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV Công an tỉnh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 3 năm 3 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger