|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày: 04/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Hợp và ông Đỗ Văn Kha.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRỊNH VĂN Đ; tên gọi khác: không; sinh ngày 17/7/1980; tại Bình Phước; giới tính: nam; nơi thường trú: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Trịnh Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1985 và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2025 đến ngày 20/3/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có đơn vắng mặt).
-Người chứng kiến:
- + Phạm Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
- + Huỳnh Minh H1, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp G, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo nổ về sử dụng trong dịp tết nguyên đán năm 2025, nên ngày 15/01/2025, Trịnh Văn Đ gọi điện thoại cho đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 06 bệ pháo hoa (loại 49 ống), 02 bịch pháo bi thì T2 đồng ý và 02 bên thỏa thuận mua, bán số pháo trên với số tiền 650.000đồng/01 bệ pháo hoa, 02 bịch pháo bi với số tiền 300.000đồng. Đồng thời, Đ và T2 hẹn nhau giao dịch mua, bán pháo tại khu vực gần nghĩa trang “Đ" thuộc ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô hiệu SYM, Angel II, BKS: 93H5-9152 chạy ra khu vực nghĩa trang “Đồng Xoài”, tại đây, T2 đưa cho Đàm 06 bệ pháo hoa (loại 49 ống) và 2 bịch pháo bi bỏ trong thùng cát tông có chữ “HÀNG DỄ VỠ” rồi Đ đưa số tiền 4.200.000 đồng cho T2. Sau khi nhận tiền xong, T2 bỏ đi, còn Đ điều khiển xe mô tô trên chở toàn bộ số pháo nổ trên mang về nhà của mình ở ấp C, xã T cất giấu.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/01/2025, Đ tiếp tục gọi điện thoại cho T2 hỏi mua thêm 12 bệ pháo hoa (loại 49 ống) với số tiền 7.800.000đồng và cả 02 hẹn nhau giao, nhận pháo tại cụm C thuộc ấp G, xã T. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô trên chạy đến khu vực cụm C gặp T2. Tại đây, T2 đưa cho Đ 12 bệ pháo hoa (loại 49 ống) bỏ trong thùng cát tông có chữ “GAME FARM” và Đ đưa cho T2 số tiền 7.800.000 đồng rồi T2 bỏ đi. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở số pháo trên mang về nhà, khi Đ đi đến đoạn đường thuộc cụm C thì bị lực lượng Công an xã T đang đi tuần tra nghi ngờ nên yêu cầu Đ dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong thùng bìa cát tông có chứa 12 khối hình chữ nhật, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có nhiều màu sắc, in hình pháo hoa (nghi là pháo nổ). Qua làm việc, Đ khai nhận 12 khối hình hộp trên là pháo nổ. Do đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ và thu giữ toàn bộ tang vật trên. Theo biên bản cân trọng lượng thì 12 khối hình hộp trên có khối lượng là 19,2kg.
Cùng ngày 16/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Đ và thu giữ 06 khối hình chữ nhật, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có nhiều màu sắc, in hình pháo hoa và 02 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 02 bọc nylon có chứa nhiều dạng viên bị hình tròn có nhiều màu sắc được bỏ trong thùng cát tông có chữ “HÀNG DỄ VỠ” (nghi là pháo nổ). Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ toàn bộ tang vật trên. Theo biên bản cân trọng lượng 06 khối hình chữ nhật trên có khối lượng 9,5kg và 02 bọc nylon có chứa nhiều dạng viên bi hình tròn có khối lượng 0,9kg. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành niêm phong 18 khối hình chữ nhật, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có nhiều màu sắc, in hình pháo hoa (ký hiệu M1) và niêm phong 02 bọc nylon có chứa nhiều dạng viên bi hình tròn có nhiều màu sắc (ký hiệu M3) theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số: 115/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 18 khối hình hộp ký hiệu là M1 được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, tổng khối lượng là 28,70 kg.
Các vật hình cầu tròn bằng nhựa ký hiệu là M3 được niêm phong gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, tổng khối lượng 0,9kg.
Kèm theo kết luận giám định: Không.
H2 lại đối tượng giám định: Mẫu M1 = 17,15 kg. Mẫu M3 = 0,8kg được niêm phong
Bản Cáo trạng số 43/CTr-VKS-ĐX ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Trịnh Văn Đ mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 191 phạt bổ sung 30.000.000 đồng đến 40.000.000đồng sung nộp ngân sách hà nước.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 thùng giấy cát tông đã cũ trên thùng có đục lỗ tròn. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động V đã qua sử dụng. Trả lại cho ông Trịnh Văn N 01 xe mô tô biển số 93H5 – 9152.
Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước tiêu huỷ 11 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước 16 cm x 16 cm x 10 cm, có tổng trọng lượng 17,15 kg; 02 túi nylon bên trong chứa nhiều vật hình cầu tròn, nhiều màu dạng quả bóng đá, đường kính 2,7 cm, mẫu còn loại sau giám định 0,8 kg, được niêm phong trong 01 thùng giấy, bên ngoài dán giấy niêm phong, có chữ ký của ông Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức N1, Trịnh Văn Đ và đóng mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
Bị cáo Trịnh Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đã biết hành vi của mình là sai trái, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được chấp hành án ngoài xã hội để có điều kiện lao động, chăm sóc anh trai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa Trịnh Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra khám xét, biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án và các Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B số 115/KL-KTHS ngày 21/01/2025
kết luận 18 khối hình hộp ký hiệu là M1 được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, tổng khối lượng là 28,70 kg. Các vật hình cầu tròn bằng nhựa ký hiệu là M3 được niêm phong gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, tổng khối lượng 0,9kg. Phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào ngày 16/01/2025, Trịnh Văn Đ đã có hành vi mua 19,2 kg pháo nổ trái phép của 01 đối tượng tên Ty nhằm mục đích mang về nhà của mình ở ấp C, xã T, thành phố Đ cất giấu để sử dụng, khi Đ đang chở số pháo trên đi về nhà của mình thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, vào ngày 15/01/2025, Đ còn mua 10,4 kg pháo nổ của 01 đối tượng tên T2 mang về nhà của mình ở ấp C, xã T cất giấu để sử dụng. Cơ quan công an đã khám xét thu giữ toàn bộ số pháo trên. Hành vi của Trịnh Văn Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tổng khối lượng pháo mà bị cáo tàng trữ là 29,6 kg nên Cáo trang của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về lỗi, bị cáo Trịnh Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn nhận thức được pháo nổ là hàng hoá cấm tàng trữ, lưu thông nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo cố tình thực hiện, đây là hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý một số hàng hoá thuộc danh mục cấm của Nhà nước; làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng của công dân cũng như của chính bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần nên bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận. Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện áp dụng các quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự nên được hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
[5] Đối tượng tên T2 là người bán pháo nổ trái phép cho Trịnh Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của Ty nên không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Trịnh Văn N cho bị cáo Trịnh Văn Đ mượn xe mô tô biển số 93H5 9152 sử dụng đi cạo mủ, sau đó Đ sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội, anh N không biết nên không đặt ra vấn đề xử lý.
[6] Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô biển số 93H5 – 9152 ông Trịnh Văn N cho bị cáo mượn sử dụng nhưng không biết bị cáo dùng để đi mua pháo nên cần trả lại cho ông N;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 0015416, số máy VA2BD-003940, số khung 10ED6D003904 tên Trịnh Văn N, ông N đã nhận lại nên không xem xét xử lý.
- 01 thùng giấy cát tông đã cũ trên thùng có đục lỗ tròn không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động V đã qua sử dụng của bị cáo sử dụng liên lạc mua pháo nổ nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước
- 11 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước 16 cm x 16 cm x 10 cm, tổng trọng lượng 17,15 kg; 02 túi nylon bên trong chứa nhiều vật hình cầu tròn, nhiều màu dạng quả bóng đá, đường kính 2,7 cm, mẫu còn loại sau giám định 0,8 kg, được niêm phong trong 01 thùng giấy, bên ngoài dán giấy niêm phong, có chữ ký của ông Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức N1, Trịnh Văn Đ và đóng mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B là số pháo còn lại sau giám định nên cần giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước tiêu huỷ theo quy định.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Trịnh Văn Đ phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt Trịnh Văn Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Xử phạt bổ sung Trịnh Văn Đ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung nộp ngân sách Nhà nước.
3. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng giấy cát tông đã cũ trên thùng có đục lỗ tròn.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động V đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho ông Trịnh Văn N 01 xe mô tô biển số 93H5 – 9152.
- - Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước xử lý tiêu hủy 11 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước 16 cm x 16 cm x 10 cm, tổng trọng lượng 17,15 kg; 02 túi nylon bên trong chứa nhiều vật hình cầu tròn, nhiều màu dạng quả bóng đá, đường kính 2,7 cm, mẫu còn loại sau giám định 0,8 kg, được niêm phong trong 01 thùng giấy, bên ngoài dán giấy niêm phong, có chữ ký của ông Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức N1, Trịnh Văn Đ và đóng mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002355, quyển số 0048, ký hiệu D47/2017 ngày 19/5/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước và Lệnh nhập kho số 05KHOVC/2025 ngày 10/02/2025 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Trịnh Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình sư
