Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm, bà Võ Thị Thanh Phương.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc với điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực C thuộc Công an tỉnh A xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 10/TB-TA ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Thanh H, sinh ngày 20/7/1990; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (chết) và bà Huỳnh Thị M; chưa có vợ con. Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 27/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng. Bị bị bắt, tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị M (có mặt); Ông (bà) Phạm Thị T, Thái Thanh T1, Huỳnh Văn T2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/01/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Trần Thanh H, thuộc tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang có hoạt động phạm tội về ma túy. Sau khi tiếp nhận thông tin, Công an phường N, thành phố C đến địa điểm trên kiểm tra, xác minh phát hiện giường ngủ của H đang ngồi có 01 hộp nhựa màu trắng quấn băng keo màu đỏ, bên trong có 02 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy), 01 bật lửa màu đen, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu vàng một đầu cắt xéo và 01 chai nhựa trong suốt nắp đạy màu nâu có gắn nỏ thủy tinh cùng ống hút nhựa màu trắng – tím nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H cùng tang vật. Ngày 09/01/2025, Trần Thanh H bị khởi tố để điều tra.

Vật chứng thu giữ: 02 bọc nylon trong suốt hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (giám định là ma túy, loại Methamphetamine); 01 bật lửa màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng một đàu cắt xéo; 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp đậy màu nâu có gắn nỏ thủy tinh cùng ống hút nhựa màu trắng - tím.

Kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,4410 gam.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSCĐ-HS ngày 25/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người làm chứng bà Huỳnh Thị M có lời khai như trong giai đoạn điều tra.

- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định, 01 bật lửa màu đen, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng một đầu cắt xéo, 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp đậy màu nâu có gắn nỏ thủy tinh cùng ống hút nhựa màu trắng – tím.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, ông (bà) Phạm Thị T, Thái Thanh T1, Huỳnh Văn T2 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái pháp luật chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4410 gam; bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Hiện tại trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu: ngày 27/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, đã chấp hành xong. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng dùng để sử dụng ma túy theo quy định tại điểm khoản Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo khai nhờ người tên D (không biết hộ tên và địa chỉ cụ thể) mua giùm ma túy, do chưa xác định được nhân thân lai tịch chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

[7] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/01/2025.

2. Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 18/KL-KTHS ngày 08/01/2025; 01 (một) chai nhựa trong suốt; 01 bật lửa màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, đã qua sử dụng (đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 05/5/2025).

3. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phân trại tạm giam KVCĐ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger