|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HS-PT Ngày: 26-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Quốc Bảo. |
| Các Thẩm phán: | Ông Đinh Tấn Long; |
| Ông Lê Minh Tân. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Vũ Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Vũ Thị H, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1986; tại: huyện P, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: thôn C, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L và bà Võ Thị H1; có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Vũ Thị H: ông Nguyễn Thành Q, Luật sư của Văn phòng L5; địa chỉ: Số H đường T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/7/2008, Trần Vũ Thị H được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T bổ nhiệm chức vụ: cán bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTB & XH) xã T theo Quyết định số: 45/QĐ-UBND của UBND xã T. Từ năm 2008 đến năm 2012, H được giao quản lý toàn bộ tiền điều dưỡng của thương binh, tiền (quà)
của Chủ tịch nước, tiền trợ cấp thờ cúng liệt sỹ, tiền bảo trợ xã hội để chi trả cho các đối tượng được hưởng trên địa bàn xã T. Mỗi đợt chi trả tiền, H lập danh sách đối tượng chính sách được hưởng chế độ và bảng tổng hợp dự toán tiền chi trả (có xác nhận của Lãnh đạo UBND xã T) trình Phòng LĐTB&XH huyện P để tạm ứng tiền. Sau khi được Phòng LĐTB&XH huyện cho tạm ứng thì H trực tiếp quản lý số tiền này để thực hiện chi trả cho từng trường hợp. Kết thúc đợt chi, H phải mang hồ sơ chi trả đến Phòng LĐTB&XH huyện để quyết toán. Với mục đích trục lợi, chiếm đoạt tiền từ các chính sách trên, H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để lập khống hồ sơ, giả chữ ký của đối tượng chính sách, thân nhân đối tượng chính sách để chiếm đoạt tiền chính sách, làm thất thoát ngân sách Nhà nước. Cụ thể, trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 như sau:
* Chiếm đoạt tiền điều dưỡng:
- - Năm 2008: Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 700.000 đồng tiền điều dưỡng của bà Thái Thị Đ (sinh năm 1926; trú tại: thôn Đ, xã T; chết năm 2009 - người đại diện là ông Nguyễn Đức L1 sinh năm 1952, trú: thôn Đ, xã T).
- - Năm 2009: Huệ giả chữ ký chiếm đoạt tổng cộng 2.800.000 đồng tiền điều dưỡng của 04 trường hợp, cụ thể: chiếm đoạt 700.000 đồng của ông Nguyễn H2 (sinh năm 1932, trú: thôn T, xã T), chiếm đoạt 700.000 đồng của bà Phan Thị T (sinh năm 1942, trú: thôn T, xã T), chiếm đoạt 700.000 đồng của ông Trần Ngọc M (sinh năm 1948, trú: thôn T, xã T); chiếm đoạt 700.000 đồng của ông Lê Văn L2 (sinh năm 1963, trú tại: thôn C, xã T).
- - Năm 2010: Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 700.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1948; trú tại: thôn Đ, xã T).
- - Năm 2011: Huệ giả chữ ký chiếm đoạt tổng cộng 6.400.000 đồng tiền điều dưỡng của 08 trường hợp, cụ thể: chiếm đoạt 800.000 đồng của ông Lê Văn A (sinh năm 1955, chết năm 2017) - người đại diện là bà Trần Thị M1 (sinh năm 1957; trú tại: thôn T, xã T); chiếm đoạt 800.000 đồng của ông Hồ Thanh X (sinh năm 1927; trú tại: thôn Đ, xã T; chết năm 2019) - người đại diện là bà Lê Thị T2 (sinh năm 1960, trú tại: thôn Đ, xã T); chiếm đoạt 800.000 đồng của bà Huỳnh Thị T3 (sinh năm 1941; trú tại: thôn Đ, xã T), chiếm đoạt 800.000 đồng của bà Lê Thị L3 (sinh năm 1970; trú tại: thôn T, xã T); chiếm đoạt 800.000 đồng của bà Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1924; trú tại: thôn T, xã T; chết năm 2012, không có người đại diện); chiếm đoạt 800.000 đồng của ông Trương Công T4 (sinh năm 1934; trú tại: thôn C, xã T; chết năm 2019) - người đại diện là ông Trương Văn P (sinh năm 1975, trú tại: thôn C, xã T); chiếm đoạt 800.000 đồng của bà Mai Thị T5 (sinh năm 1946; trú tại: thôn T, xã T; đã chết, không có người đại diện); chiếm đoạt 800.000 đồng của ông Đỗ M2 (sinh năm 1924; trú tại: thôn C, xã T). H còn lập khống 01 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 800.000 đồng.
Tổng số tiền điều dưỡng H chiếm đoạt năm 2011 là 7.200.000 đồng.
2
Như vậy, từ năm 2008 đến năm 2011, tổng số tiền điều dưỡng H chiếm đoạt là 11.400.000 đồng.
* Chiếm đoạt tiền bảo trợ xã hội:
- - Năm 2011, H lập khống chiếm đoạt của Nhà nước số tiền 540.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị N (trú tại: thôn T, xã T), bà N đã chết nhưng vẫn lập hồ sơ quyết toán trong 03 tháng với số tiền 180.000 đồng/01 tháng.
- - Năm 2011, H giả chữ ký chiếm đoạt 360.000 đồng đối với 02 trường hợp của bà Phan Thị L4 (sinh năm 1953; trú tại: thôn T, xã T) và bà Nguyễn Thị C (sinh năm 1928; trú tại: thôn Đ, xã T).
Tổng cộng tiền bảo trợ xã hội H chiếm đoạt năm 2011 là 900.000 đồng.
* Chiếm đoạt tiền quà Tết nguyên đán và dịp 27/7 hằng năm, gồm:
- - Năm 2008, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7, H đã chiếm đoạt:
- + Giả chữ ký chiếm đoạt 50.000 đồng của ông Phan Châu H4 (sinh năm 1963, trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân Liệt sỹ Bùi Thị T6.
- + Lập khống 01 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 50.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân Liệt sỹ Nguyễn B (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + Lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 200.000 đồng.
- - Năm 2009, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
- + H lập khống 01 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 100.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + Lập khống 05 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 600.000 đồng.
- - Năm 2009, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7:
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của Nhà nước 200.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + H lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 1.700.000 đồng.
3
- - Năm 2010, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 400.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + H lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 3.400.000 đồng.
- - Năm 2010, Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
- + Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 100.000 đồng của ông Võ H6 (sinh năm 1968; trú tại: thôn C, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Võ Tũng .
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 200.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 300.000 đồng.
- - Năm 2010, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7:
- + Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 100.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 200.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + H lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 1.800.000 đồng.
- - Năm 2010, Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7:
H lập khống hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 400.000 đồng đối với 02 trường hợp. Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 400.000 đồng.
- - Năm 2011, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
- + H ký giả chiếm đoạt 200.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 400.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
4
+ H lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 3.600.000 đồng.
- - Năm 2011, Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán: H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 400.000 đồng. Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 400.000 đồng.
- - Năm 2011, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7:
- + Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 100.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + H lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 200.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + H lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 1.800.000 đồng.
- - Năm 2011, Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7:
- + Huệ giả chữ ký chiếm đoạt 200.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + Lập khống 01 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 200.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + Lập khống 12 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 2.400.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 2.800.000 đồng.
- - Năm 2012, UBND tỉnh Q tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
- + H giả chữ ký chiếm đoạt 300.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + Lập khống 02 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 600.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B và Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị S (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + Lập khống 15 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 4.500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 5.400.000 đồng.
- - Năm 2012, Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp Tết Nguyên đán:
5
- + H giả chữ ký chiếm đoạt 200.000 đồng của bà Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1949; trú tại: thôn T, xã T) là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn Nhị .1
- + Lập khống 01 hồ sơ chiếm đoạt tiền của ngân sách Nhà nước 200.000 đồng đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H5 là thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn B (đã chuyển đi nơi khác) nhưng H vẫn lập danh sách.
- + Lập khống 12 hồ sơ chiếm đoạt của ngân sách Nhà nước 2.400.000 đồng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt là 2.800.000 đồng.
Như vậy, từ năm 2009 đến năm 2012, bằng phương thức và thủ đoạn nêu trên, H đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 07 lần với số tiền mỗi lần chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt từ tiền ngân sách Nhà nước và của các đối tượng được hưởng chế độ chính sách là 28.000.000 đồng.
Ngoài ra, từ năm 2008 đến năm 2011, H còn chiếm đoạt tiền từ ngân sách Nhà nước và các đối tượng được hưởng chính sách nhiều lần, mỗi lần chiếm đoạt chưa đến 2.000.000 đồng; trong đó: năm 2008 chiếm đoạt tiền điều dưỡng 700.000 đồng, tiền quà Tết Nguyên đán của UBND tỉnh là 200.000 đồng; năm 2009 chiếm đoạt tiền quà Tết Nguyên đán của UBND tỉnh là 600.000 đồng, tiền UBND tỉnh tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7 là 1.700.000 đồng; năm 2010 chiếm đoạt tiền điều dưỡng là 700.000 đồng, tiền quà Tết Nguyên đán của Chủ tịch nước là 300.000 đồng, tiền Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7 là 400.000 đồng, tiền UBND tỉnh tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7 là 1.800.000 đồng; năm 2011 chiếm đoạt tiền bảo trợ xã hội 900.000 đồng, tiền quà Tết Nguyên đán của Chủ tịch nước là 400.000 đồng, tiền UBND tỉnh tặng quà gia đình chính sách dịp 27/7 là 1.800.000 đồng.
Đồng thời, trong thời gian công tác, H làm thất thoát ngân sách Nhà nước số tiền 2.540.000 đồng; trong đó: làm thất thoát số tiền 2.000.000 đồng do chi trùng hai lần cho trường hợp thân nhân của Liệt sỹ Nguyễn N, làm thất thoát số tiền 540.000 đồng do chi trùng tiền bảo trợ xã hội trong ba tháng cho bà Nguyễn Thị T7.
Quá trình điều tra, Trần Vũ Thị H đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền là 41.540.000 đồng, trong đó có số tiền H khai chiếm đoạt là 39.000.000 đồng và 2.540.000 đồng làm thất thoát ngân sách Nhà nước. Số tiền H giao nộp hiện đang tạm gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện P tại Kho bạc Nhà nước huyện P.
Giai đoạn điều tra, H bị bệnh phải điều trị, đến ngày 25/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định số 41/QĐ-CSĐT, trưng cầu Trung tâm P2 giám định tình trạng bệnh tâm thần của Trần Vũ Thị H. Ngày 23/9/2022, Trung tâm P2 có thông báo số 342/PYTT-PKHTH và gửi kèm Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1710/KLGĐ, kết luận:
“* Thời điểm hiện tại:
6
- Kết luận về y học: Rối loạn dạng cơ thể không phân biệt (F45.1).
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.”
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Vũ Thị H phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 278, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Xử phạt bị cáo Trần Vũ Thị H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 20/9/2024, bị cáo Trần Vũ Thị H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Vũ Thị H về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 278 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Trần Vũ Thị H 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh: chồng bị cáo được tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; mẹ chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo hiện đang điều trị bệnh. Tuy nhiên, mức án đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Vũ Thị H phát biểu quan điểm: thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo; tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội nhiều lần là quá nặng, đề nghị chỉ xác định bị cáo phạm tội một lần; hiện nay, bị cáo có con nhỏ, chồng không có việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi mẹ già bị bệnh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Trần Vũ Thị H không tranh luận, thống nhất với quan điểm của người bào chữa, xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Vũ Thị H có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Vũ Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: lợi dụng chức vụ, quyền hạn là cán bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xã T, từ năm 2009 đến năm 2012, bị cáo Trần Vũ Thị H đã 07 lần dùng thủ đoạn giả chữ ký, lập khống hồ sơ để chiếm đoạt tiền ngân sách Nhà nước và tiền chi cho các đối tượng được hưởng chế độ chính sách. Tổng số tiền bị cáo H chiếm đoạt 07 lần là 28.000.000 đồng, cụ thể: lần 1: năm 2009, chiếm đoạt tiền điều dưỡng là 2.800.000 đồng; lần 2: năm 2010, chiếm đoạt tiền UBND tỉnh Q tặng quà Tết Nguyên đán là 3.400.000 đồng; lần 3: năm 2011, chiếm đoạt tiền điều dưỡng là 7.200.000 đồng; lần 4: năm 2011, chiếm đoạt tiền UBND tỉnh Q tặng quà Tết Nguyên đán là 3.600.000 đồng; lần 5: năm 2011, chiếm đoạt tiền Chủ tịch nước tặng quà gia đình chính sách nhân dịp ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7 là 2.800.000 đồng; lần 6: năm 2012, chiếm đoạt tiền Chủ tịch nước tặng quà Tết Nguyên đán là 2.800.000 đồng; lần 7: năm 2012, chiếm đoạt tiền UBND tỉnh Q tặng quà Tết Nguyên đán là 5.400.000 đồng. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Trần Vũ Thị H về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 278 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Vũ Thị H thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xử phạt bị cáo Trần Vũ Thị H 02 năm 06 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng) là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh: chồng của bị cáo được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, bị cáo hiện đang điều trị bệnh. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, trong thời gian dài, đã chiếm đoạt tiền điều dưỡng, tiền quà Tết, tiền quà tặng gia đình chính sách dịp 27/7 gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan Nhà nước; hơn nữa, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
8
- Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Vũ Thị H phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Vũ Thị H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 278; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Trần Vũ Thị H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Trần Vũ Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Quốc Bảo |
9
Bản án số 52/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tham ô tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 52/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Vũ Thị H - Tham ô tài sản
