Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

1

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-6-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình Hoằng; Bà Nguyễn Thị Phi Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28-4-2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải L, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Văn L1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 01 năm 2025, và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hải L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 04-8-2015.

Quá trình chung sống đến nay thì vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh L1 nghiện ngập, không lo làm ăn, cách sống của anh L1 buông thả, không thay đổi và hiện cũng đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Vợ chồng không còn quan tâm tới nhau, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 có 02 con chung là cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 và Phan Nguyễn Bảo T, sinh ngày 28-7-2018. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Hải L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 17-2-2025, biên bản hòa giải ngày 26-3-2025, bị đơn anh Phan Văn L1 trình bày:

Về hôn nhân: Anh L1 và chị L có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý. Anh cần thời gian, và sau khi tái hòa nhập cộng đồng anh sẽ về giải quyết ly hôn với chị L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 có 02 con chung là cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 và Phan Nguyễn Bảo T, sinh ngày 28-7-2018. Anh có nguyện vọng nuôi dưỡng một trong hai cháu nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn.

Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Tại phiên tòa cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cháu Phan Nhật N trình bày: Bố cháu là Phan Văn L1, mẹ cháu là Nguyễn Thị Hải L. Bố, mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Hải L khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phan Văn L1. Anh Phan Văn L1 hiện đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai; địa chỉ tại thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai thụ lý và giải quyết vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Phan Văn L1. Anh L1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 04-8-2015. Hôn nhân của chị L và anh L1 là hợp pháp theo quy định pháp luật.

3

Chị L trình bày, quá trình chung sống, giữa chị và anh L1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh L1 nghiện ngập, không lo làm ăn, cách sống buông thả, không thay đổi và hiện cũng đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

Anh L1 trình bày anh không đồng ý ly hôn với chị L vì anh còn yêu thương vợ con, cần thời gian để hòa giải vợ chồng, khi nào chấp hành xong biện pháp cai nghiện, tái hòa nhập anh sẽ về giải quyết ly hôn với chị L. Nhưng nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì anh có nguyện vọng nuôi dưỡng một trong hai con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, năm 2023 anh Phan Văn L1 thực hiện cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở C tỉnh Gia Lai, và hiện nay lại đang tiếp tục cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Việc anh không đồng ý ly hôn với chị L vì cho rằng còn yêu thương vợ, con, cần thời gian hòa giải, tái hòa nhập cộng đồng về sẽ giải quyết ly hôn với chị L nhưng lại trình bày rằng trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh có nguyện vọng nuôi dưỡng một trong hai con chung cho thấy lý do anh L1 trình bày là không phù hợp, nên không có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích của hôn nhân là vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau chăm lo cuộc sống. Nhưng giữa chị L và anh L1 đã bỏ mặc nhau, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn, anh L1 còn lâm vào tệ nạn xã hội bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Hôn nhân giữa chị L và anh L1 đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ nên được chấp nhận.

2.2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 có 02 con chung là cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 và Phan Nguyễn Bảo T, sinh ngày 28-7-2018.

Chị Nguyễn Thị Hải L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phan Văn L1 có nguyện vọng được nuôi một trong hai con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự đều là chính đáng, nhằm mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng con phát triển, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các con. Tuy nhiên, hiện tại anh Phan Văn L1 đang chấp hành thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Chị Nguyễn Thị Hải L hiện đang là nhân viên chăm sóc thú cưng, có thu nhập ổn định để đảm bảo đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Phan Nhật N trình bày là có nguyện vọng được ở với chị L khi bố mẹ ly hôn, còn cháu Phan Nguyễn Bảo T chưa đủ tuổi để hỏi nguyện vọng của cháu. Hiện nay, anh L1 đang chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 và Phan Nguyễn Bảo T, sinh ngày 28-7-2018 cho chị Nguyễn Thị Hải L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình và cũng phụ hợp nguyện vọng của các cháu.

4

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

2.3. Về tài sản chung và nợ: Chị L và anh L1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải L.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 được ly hôn.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Phan Nhật N, sinh ngày 29-10-2015 và Phan Nguyễn Bảo T, sinh ngày 28-7-2018 cho chị Nguyễn Thị Hải L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Hải L không yêu cầu anh Phan Văn L1 cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xét.

  1. Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị Nguyễn Thị Hải L và anh Phan Văn L1 không yêu cầu, nên không xét.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 001069 ngày 13-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chị L đã nộp đủ.
  3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

5

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Tp. Pleiku;
  • - Chi cục THA dân sự Tp.Pleiku;
  • - UBND xã Al Bá, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (GCNKH số 13 ngày 04-8-2015);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị N1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger