Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2025

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

-

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Ngọc Cẩm Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Phúc
  2. Bà Phạm Thị Em

Thư ký phiên tòa:

Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tham gia phiên tòa:

Ông Phan Văn Việt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1995. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Nơi cư trú: Số B khóm C, Phường A, Tp ., tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: Anh Phạm Hoàng K, sinh năm 1990. Vắng mặt
  4. Nơi cư trú: Số H ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết N trình bày:

Chị và anh K quen biết nhau và cưới nhau vào năm 2017 hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 03/10/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc và có với nhau được một con chung nhưng sau đó đến năm 2022 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã, hai bên không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng vợ chồng chị vẫn không đoàn tụ được. Do đó, chị đã bỏ về quê ở Đồng Tháp sinh sống cho đến nay và giữa chị với anh K đã ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh K nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Quá trình hôn nhân anh chị có một con chung tên Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018. Hiện cháu T đang sống chung với anh K nên sau khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Hoàng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết N đối với anh Phạm Hoàng K, cho chị N và anh K được ly hôn. Về con chung: Sau khi ly hôn chị đồng ý giao con chung Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018 cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Chị Lê Thị Tuyết N có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Phạm Hoàng K cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Xét thấy, đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Hoàng K đã được Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo thủ tục chung.

[3] Ngày 02/6/2025 chị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị N và anh K cưới nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 03/10/2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị N và anh K chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị N đã nộp đơn xin ly hôn với anh K.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống hôn nhân của chị N và anh K thực tế là có mâu thuẫn. Bởi lẽ, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 hai bên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau, không có tiếng nói chung do đó chị N đã bỏ về quê mẹ ruột ở Đồng Tháp để sinh sống và sống ly thân với anh K cho đến nay. Từ khi chị N và anh K sống riêng thì hai bên ít quan tâm nhau, mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng anh chị vẫn không đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh K đã gay gắt mặc dù trong khoảng thời gian chị N và anh K ly thân cũng là khoảng thời gian đủ để anh chị suy nghĩ hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, tuy nhiên, anh chị vẫn không hàn gắn được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, chị N xác định không còn tình cảm với anh K và kiên quyết xin ly hôn với anh K, anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều đó cho thấy anh K đã bỏ mặc hôn nhân của anh chị cũng như đã tự từ bỏ cơ hội để hàn gắn đoàn tụ với chị N.

Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Quá trình hôn nhân anh chị có một con chung tên Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018. Hiện cháu T đang sống chung với anh K nên sau khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng.

Xét về yêu cầu giao con chung tên Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018 của chị N. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị N và anh K ly thân đến nay thì cháu T là do anh K và gia đình anh K trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị N có tới lui thăm cháu T. Tại biên bản xác minh ngày 27/5/2025 của ông Phạm Văn B là ba ruột của anh K cũng xác định, cháu T hiện tại đang sống với anh K, quá trình phát triển và học tập của cháu T hoàn toàn tốt, chị N cũng đồng ý giao con cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không tranh chấp. Anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và biết rõ về việc yêu cầu giao con chung của chị N nhưng vẫn không có ý kiến hay yêu cầu gì. Do đó, để đảm bảo về sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho cháu T, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu T cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu T theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do anh K không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, trong trường hợp nếu anh K có yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con thì anh K được quyền khởi kiện thành một vụ kiện khác.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của chị N được chấp nhận nên chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết N với anh Phạm Hoàng K. Cho chị Lê Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Hoàng K.
  2. Về con chung: Có một con chung tên Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018. Sau khi ly hôn anh Phạm Hoàng K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 16/01/2018.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Lê Thị Tuyết N phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006597 ngày 03 tháng 3 năm 2025của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị N đã nộp đủ án phí.

Chị Lê Thị Tuyết N và anh Phạm Hoàng K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Ngọc Cẩm Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Lê Thị Tuyết N - Phạm Hoàng K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger