|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST Ngày 24/11/2025. V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Sơn và ông Dương Minh Tư.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Tiến Đạt – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huyền C, sinh năm 2001
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1995
- Đều địa chỉ: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ
- (Chị C và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Huyền C trình bày: Chị và anh Nguyễn Đức T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, tỉnh Phú Thọ ngày 03/02/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến tháng 6 năm 2025 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường xảy ra tranh cãi bất hoà. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2025 cho đến nay không ai quan tâm ai. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Đức T để ổn định cuộc sống.
Anh Nguyễn Đức T trình bày: Thời gian kết hôn, quá trình chung sống, như chị C trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có mâu thuẫn về kinh tế, tiền bạc nhưng sau đó đã nói chuyện và giải quyết mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên đến tháng 8 năm 2025, anh không biết vì lý do gì mà chị C bỏ về nhà mẹ đẻ chị C (tại khu C, xã T) ở cho đến nay. Trong thời gian chị C ở nhà bố mẹ đẻ, anh đã xuống gặp nói chuyện, gia đình hai bên cũng hòa giải, động viên hai vợ chồng để về đoàn tụ nhưng chị C cương quyết không nghe. Sau đó, trong thời gian chị C ở nhà bố mẹ đẻ có phát sinh tình cảm với người đàn ông khác, nên chị C muốn về với anh thì anh không đồng ý nữa nhưng chị C đề nghị ly hôn, anh không đồng ý vì anh không có lỗi gì.
2. Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/12/2021, hiện nay đang ở với anh T.
Khi ly hôn, chị C và anh T thống nhất thoả thuận, anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T vì anh T tự nguyện không yêu cầu.
3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Nguyễn Huyền C và anh Nguyễn Đức T đều không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
- Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 điều 28; điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Huyền C được ly hôn anh Nguyễn Đức T
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/12/2021 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Huyền C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T vì anh T tự nguyện không yêu cầu.
Chị Nguyễn Huyền C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị C và anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng dân sự:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Nguyễn Đức T có hộ khẩu thường trú tại khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ.
[2]. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Huyền C và anh Nguyễn Đức T kết hôn ngày 03/02/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, tỉnh Phú Thọ. Hôn nhân giữa chị C và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện do đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của chị C, anh T và việc xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T tại UBND xã T thì xác định được hôn nhân của chị C và anh T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do các bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xảy ra tranh cãi bất hoà, hiện đã sống ly thân không quan tâm đến nhau. Bản thân anh T không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đồng ý để chị C quay về đoàn tụ. Như vậy có đủ căn cứ xác định hôn nhân giữa chị C và anh T không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không khắc phục được. Do vậy cần xử cho chị C được ly hôn anh T là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Huyền C và anh Nguyễn Đức T có 01 con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/12/2021. Hiện nay con chung đang ở cùng anh T. Chị C và anh T đều có quan điểm anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T vì anh T tự nguyện không yêu cầu. Xét đây là ý chí tự nguyện của các bên, phù hợp với sự phát triển ổn định của con chung, không trái với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.
[2.3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Nguyễn Huyền C và anh Nguyễn Đức T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Huyền C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 điều 28; điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238; điều 271; điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Huyền C ly hôn anh Nguyễn Đức T.
-
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/12/2021 kể từ khi vợ chồng ly hôn đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị Nguyễn Huyền C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T vì anh T tự nguyện không yêu cầu.
Chị Nguyễn Huyền C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Nguyễn Huyền C và anh Nguyễn Đức T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Huyền C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà 0003525 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị C đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hải |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung
