|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2025.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Bình;
2. Bà Nguyễn Ngọc Cúc.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Nhi -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Trúc L, sinh năm 1987. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Khu C, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1976. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Khu C, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Trúc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Minh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình ngày càng khác biệt nên thường xuyên gây gổ, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng ngột ngạt, không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án gồm có: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về việc yêu cầu giao nộp tài liệu, chứng cứ; Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn ông Trần Minh T đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được. Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, cho bà L ly hôn với ông T. Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Trúc L khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Trần Minh T có địa chỉ cư trú tại khu C, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Trần Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Trúc L và ông Trần Minh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 01/2012, ngày 10/7/2012. Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì hôn nhân giữa bà L, ông T xác định là hôn nhân hợp pháp. Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành để giải quyết việc bà L xin ly hôn với ông T.
Theo bà L thì vợ chồng bà xảy ra bất đồng quan điểm, tính tình ngày càng khác biệt nên thường xuyên gây gổ, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng ngột ngạt, không thể hàn gắn được nên bà xin ly hôn.
Kết quả xác minh mâu thuẫn thì địa phương không rõ do các bên không trình báo. Tuy nhiên hiện nay bà L và ông T không còn sống chung với nhau, bà L sinh sống tại ấp B, ông T sinh sống tại ấp T. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã
nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa án để tham gia hòa giải, nhưng ông T vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt, cho thấy ông T không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân vợ chồng giữa bà L và ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, cho bà L được ly hôn với ông T.
[4] Về con chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, do ông T vắng mặt, không có lời khai về tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 131 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Trúc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Trúc L được ly hôn với ông Trần Minh T.
- Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Trần Thị Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án
phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, theo biên lai thu số 0025099, ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Cửu. Bà L đã nộp xong tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Trúc L, ông Trần Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
